Nếu Tình Ca là một ca khúc ba đoạn ba điệp khúc thì trường ca Mẹ Việt Nam
là một bài hát dài bằng lịch sử nước Việt Nam hay bằng chiều dài của nước Việt
Nam. Tình Ca chỉ tổng quát toàn bộ Việt Nam với những sắc thái đặc biệt của nó, thì
Mẹ Việt Nam đi sâu vào một nhân vật. Đó là người mẹ Việt Nam và những đức tính của mẹ.
Nếu Tình Ca làm ta xúc động với những nét đặc tả thần kỳ thì Mẹ Việt Nam
vừa mang những nét ấy lại vừa tạc thêm những nét làm ta kinh ngạc và thán phục tác giả
hơn. Điều này xảy ra đến cho tôi khi tôi được đọc lời ca lần đầu và ngay ở những câu
đầu:
Mẹ Việt Nam, không son không phấn
Mẹ Việt Nam, chân lấm tay bùn
Mẹ Việt Nam, không mang nhung gấm
Mẹ Việt Nam, mang tấm nâu sồng...
Một thi sĩ Hy Lạp, Ludemit Meleanos, khi tới Việt Nam năm 1962 đã cảm tác một bài
thơ cũng hay. Mấy câu đầu như sau:
Việt Nam đất nước biếc xanh
Và dài như một chiếc đàn bầu
Mà cái gảy đàn là cầu Bến Hải.
Lúc đó các thi sĩ miền Bắc mới giật mình vì mình không viết nỗi mấy câu thơ đó! Cũng
hay, nhưng nó chỉ mô tả bằng thể ví (comparaison) và chỉ mô tả về hình thể chứ
không có nội tâm, thành ra không có chiều sâu mấy. Ta không trách nhà thơ vì ông
là người ngoại quốc.
Trần Văn Giầu viết quyển Lịch Sử Việt Nam năm 1946 thì ví đất nước ta hình dáng
một cô gái, hai đầu đòn gánh là hai thúng lúa. Hình tượng đó cũng đẹp, cũng gần sát
với hình thể nước Việt Nam, nhưng cả hai sự mô tả của Meleanos và Trần Văn Giầu
đều không thể sánh với bốn câu mở đầu của Trường Ca Mẹ Việt Nam.
Tôi nhớ lúc tôi vừa đọc xong mấy câu mở đầu của trường ca, tôi buông bản lời ca. Tôi
thở dài. Tôi xin chịu. Không có ai mô tả Mẹ Việt Nam nổi đến thế. Mà chỉ trong có
16 chữ! Như thế là quá tài tình vì tả thể chất mà người đọc nhận thấy cả tâm hồn.
Tấm áo nâu, rướn mình đi từ núi rừng cao ở bản Tình Ca
càng nổi bật ở đây, vì là tấm nâu sồng của Mẹ Việt Nam,
là tấm áo nâu mang hồn sông núi. Những ý tưởng cao đẹp tuôn trào ra ngón đàn.
Ở một chương trước của quyển sách này hay ở đâu đó tôi không nhớ nữa, tôi đã bình
luận về trường ca bất hủ này, ở đây tôi chỉ xin nêu lên những tư tưởng của tác giả.
Mẹ Việt Nam là kết tinh của những đức tính cao quý có từ những thần thoại ly kỳ
của dân tộc:
Mẹ chờ mong ngày trông tháng đợi
Đời thần Trai đội đá vá trời
Với hồn Nữ Oa, mẹ giơ tay đón
Với tình nước non mẹ còn chờ mong
. . . . . . . . . . . . . .
Mẹ yêu chồng, có khi Mẹ là Châu Long
Trả nợ thay lòng vẫn giữ lòng
Trắng ngần sạch trong
Mẹ là Tiểu Kính Tâm
Lên chùa giải oan
Ôi xót thương trẻ khóc trong vườn
Trẻ con hoang! Ôi Mẹ từ bi
Giọt máu rơi này, mẹ nhận là con...
Các con của Mẹ có nhớ chăng? Mẹ...
... chôn đáy sông mối hận yêu chồng...
Và Chàng Trương gốc miền Nam Xương...
... Có buồn thương khóc
Rước Mẹ lên nước thiêng sẽ giải oan...
Mẹ xưa...
... Mẹ xuống sông rửa nhục anh hùng
Mẹ trôi trên dòng sông Hát
Nước ngược xuôi đưa Mẹ đi muôn nơi...
Ta thấy tất cả đức tính cao quý đều kết tinh ở Mẹ Việt Nam :
Nữ Oa: chí lớn
Châu Long: đảm đang
Kính Tâm: nhân ái
Thiếu phụ Nam Xương: trinh tiết
Trưng Nữ Vương: anh hùng.
Với sự sáng tạo phi thường, Phạm Duy đã làm tim ta nồng nàn hơn lên với tình yêu
Mẹ Việt Nam, một bà mẹ của thần thoại và của dân gian, một bà mẹ có nhiều đức tính
cao quý nhất trong các bà mẹ thế giới.
Nước Pháp có Jean d'Arc nhưng không có Châu Long, Kính Tâm, Thiếu Phụ Nam
Xương, càng không có Nữ Oa.
Trung Hoa có Thiếu Phụ Nam Xương, có Nữ Oa nhưng không có Trưng Triệu.
Nhờ Phạm Duy, ta thấy được những điều này. Nhờ Phạm Duy, ta hiểu rõ mẹ ta hơn.
Mẹ ta với những đức tính, những vui buồn của một đời lận đận và với những nỗi
chua xót của một đàn con trăm đứa...
... Chia đôi dòng nước, chia lìa dòng sông
Chia đôi bờ bến lạnh lùng
Cho Ngưu Lang Chức Nữ ngại ngùng
Nước ân tình đổi thành ra nước căm hờn
Chia sông Gianh phân tranh mộng đồ vương.
Chúng ta hãy nghe Phạm Duy mô tả tiếp Mẹ Việt Nam:
Mẹ chờ mong
Ngày trông tháng đợi
Đợi Thần Trai
Đội đá vá trời
Với hồn Nữ Oa
Mẹ giơ tay đón
Với tình nước non
Mẹ còn chờ mong...
Phạm Duy đã vận dụng dân ca cổ truyền vào nhạc mới, vận dụng ngôn ngữ Việt
Nam, hiện đại hóa truyện cổ tích, ca dao, đồng dao, làm hẳn công việc biến cải
chứ không phải sao chép. Anh tài tình ở chỗ đồng hóa Mẹ Việt Nam vào Đất Nước
Việt Nam. Mô tả Mẹ là một gái quê mang tấm nâu sồng, chân lấm tay bùn rồi lại biến
đổi Mẹ thành những người Mẹ trong truyền kỳ lịch sử. Mẹ lại còn được biến hóa ra là
lúa xanh rờn, lúa dậy thì, là núi non, là biển cả nữa. Sự chuyển hóa rất hợp lý, vì nghệ
sĩ có quyền sáng tác theo ý thích của mình. Molière tạo ra một ông bệnh tưởng,
Nguyễn Du tạo ra Nàng Kiều. Cả hai nhân vật của hai tác giả đều được cường điệu
hóa (exagéres) nhưng sáng tạo của hai ông rất là hợp lý. Do đó cả hai nhân vật đều
rất thực.
Phạm Duy đã nắm được quy luật sáng tạo, và đã sử dụng quyền năng của mình một
cách hợp lý và phải chăng (logique et sobre). Lối chuyển hóa trong Mẹ thật là khoa
học. Khi giới thiệu trường ca, tác giả viết:
''... Lúc trẻ tuổi, Mẹ Việt Nam được biểu tượng bằng đất mầu tươi tốt. Khi đứng tuổi,
Mẹ hiện thân là núi non. Mẹ còn xót xa thương lũ con sông ngòi chia rẽ. Vào lúc
tuổi già, Mẹ trở thành biển cả. Nước mắt Mẹ bốc lên trời cao làm mây bay đi, trong
khi phù sa được Mẹ gửi vào đất cũ.''
Tuy ví von như vậy, nhưng tất cả vật thể như đất, núi, sông, biển, mây, phù sa...
đều chuyển hóa theo một trình tự quá sức hợp lý. Đất trở nên mầu mỡ mềm mại, lớn
lên thành núi sắt son. Các con chia rẽ thành sông chảy đi mọi ngã. Về già, biển bạc
đầu, nước biển bốc lên thành mây, phù sa thì bồi đắp... Cũng như Tản Đà đã lấy cảnh
Sông Đà Núi Tản để hàm xúc nước non tổ quốc:
Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non.
Trường Ca Mẹ Việt Nam này, nghe lên chỉ thấy là oanh liệt, là tha thiết là
đại lượng, là bao dung, là cao quý. Sau bài Tình Ca, với Mẹ Việt Nam,
Phạm Duy lại rót thêm mật ngọt của quê hương vào lòng ta vậy.
Trong phần III của Trường Ca, phần SÔNG MẸ, Phạm Duy đã nói lên được
nỗi bi đát, niềm đau thương của dân tộc ta sau những lúc vinh quang. Có những
con sông lịch sử với chiến công oanh liệt như Bạch Đằng Giang thì cũng có những
con sông ô nhục như sông Gianh, Bến Hải. Và có những con sông nhuộm màu chủ
nghĩa này, chủ nghĩa nọ, tranh giành lẫn nhau:
Sông đỏ như máu tranh đấu sông nâu
Sông nghèo xanh yếu kêu cứu sông giầu
Sông nhuộm vàng mau
Chia nhau uốn khúc khoe mầu
Sông rồng lôi kéo sông rắn đi cắn sông đào.
Phạm Duy đã nhân cách hóa một cách tài tình những vật vô tri, vô giác. Đồng hóa
vào Mẹ Việt Nam, những vật thể bỗng như có linh hồn, bỗng trở thành nhân vật.
Trong hoàn cảnh xót xa của chúng ta hiện nay, Phạm Duy đã nói hộ tiếng lòng của
chúng ta, tiếng lòng đối với Mẹ Việt Nam. Khi viết bài này, tôi rất ngại phải dở những
tập nhạc của Phạm Duy ra, dở những trường ca và vô số những bài khác, vì nó quá
phong phú, không biết trích dẫn từ đâu, bài nào cũng có thể minh họa cho tình yêu
quê hương cả!
Thật vậy, ta có thể tìm thấy Phạm Duy ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, hoàn cảnh nào,
từ Nam Quan tới Cà Mâu, trong nắng sớm mưa chiều, trong chớp bể mưa nguồn, khi
chiến thắng lúc chiến bại, trong niềm vui nỗi buồn. Phạm Duy tới với ta, trao cho ta
''vũ khí tình yêu quê hương'' để an ủi, thúc giục ta cùng tiến bước. Khi ta hát bài
Mẹ Việt Nam là ta nghĩ tới một điều tốt đẹp. Ta muốn hứa hẹn với mọi người,
với cả ta nữa, một điều gì rất cao cả:
Mẹ Việt Nam ơi! Mẹ Việt Nam ơi!
Chúng con đã về khát khao hơi Mẹ
Chúng con xin thề giữ thơm quê Mẹ...
Và ta cũng muốn hứa với Mẹ, hứa với ta là phải yêu thương nhau như con một nhà,
con một mẹ, Mẹ Việt Nam:
Quê ta đẹp lắm Mẹ ơi!
Biển êm sóng lặng, nước nôi hiền lành.
Về đây xây đắp mối tình, tình Việt Nam
Yêu nhà, yêu nước và thương mọi người
Tình tính tang, tang tính tình
Yêu Mẹ già, thương Mẹ ta
Đàn con nhớ, nhớ yêu nhau
Đàn con nhớ, nhớ yêu nhau.
Trong lời tự truyện, tác giả bài Mẹ Việt Nam viết :
|
'' Với Con Đường Cái Quan, tôi muốn đi vào chiều dài của dân tộc. Với Mẹ Việt Nam,
tôi muốn đi vào chiều sâu của dân tộc. Và cũng trong cái tật làm bộ ba, tôi dự phóng soạn bản trường ca thứ ba nhan đề
Trường Ca Trường Sơn,
với ước muốn xưng tụng người Cha Việt Nam và đi lên chiều ca của dân tộc. Nhưng tôi tự nêu ra một điều kiện với tôi là chỉ khi nào đất nước được thật sự độc lập, tự do trong thống nhất thì tôi mới tung
Trường ca Trường Sơn ra. Tới nay, trường ca này chưa ra đời được nhưng tôi đã tạm thay thế nó bằng tổ khúc (cũng là một thứ trường ca) Bầy Chim Bỏ Xứ
trong đó tôi tới cả chiều cao lẫn chiều xa của dân tộc''. |