Phạm Thế Ðịnh
Văn Cao Và Phạm Duy
Hai Con Người, Một Mối Tình
Bài đăng trên InternetCùng sinh trong một quốc gia bị mất độc lập, cùng mang một tuổi tử vi Tây Phương, tuổi Thiên Xứng (Balance), Phạm Duy sinh ngày 05/10/1921 tại Phố Hàng Cót, Hà Nội, Văn Cao sinh ngày 01/10/1923 (tuổi khai trên giấy tờ 15/11/23 tại Lạch Trai, Hải Phòng. Phạm Duy được coi là người nhạc sĩ được nói đến nhiều nhất của miền Nam Việt Nam, tác giả của hàng ngàn lời ca, từ tình ca đôi lứa đến nhạc cách mạng kháng chiến, tình ca quê ca, thanh niên ca, dân ca, tâm ca, nhạc tuyên truyền chiến đấu, đạo ca, lưu vong ca, ngục ca, thiền ca...
Văn Cao là nhạc sĩ được hưởng huy chương cao quý nhất của miền Bắc cùng với nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Ông là tác giả của bản TIẾN QUÂN CA, bài quốc ca từ thời Ðảng Cộng Sản Việt Nam nắm quyền cho đến nay, và khoảng trên hai mươi bài nổi tiếng khác.
Vì ảnh hưởng của hai ông trên lãnh vực văn hóa quá lớn, vì cuộc sống của hai ông dính liền đến lịch sử hai miền vào một thời đoạn sôi bỏng và vì cá tính của Văn Ca và Phạm Duy rất mạnh có nhiều lúc người ta có cảm tưởng như hai bóng dáng đó đã là hai biểu tượng của hai thái độ, hai lối suy tưởng của một số đông người trí thức Việt Nam ở hai miền của giai đoạn Việt Nam chia hai với con sông Bến Hải làm giới tuyến.
Con người của Phạm Duy là hình ảnh rõ ràng của một người nghệ sĩ lấy chữ tự do làm chính, lấy cá nhân làm căn bản. Trong một bài có tên CHO NHAU năm 1957, ông có viết :Quê hương xin vẫn cho nhau như thường Có nghĩa là mặc dầu tình quê hương của ông rất lớn vì phải dùng chữ ''vẫn'' ở đây và đã được đề cập đến nhiều lần trong những ca khúc đẹp nhất của Việt Nam như trong bài TÌNH CA (1953) :
Cho dứt tay chia đôi đường
Cho rồi, xin chẳng còn vương...Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh Thế mà, khi phải lựa chọn, khi phải ''dứt tay'' mà chia, dù chấp nhận dâng hiến cả cái sống, cái chết, cái sự nghiệp, kể cả Nàng Thơ, Phạm Duy không thể làm gì khác hơn là ''chọn tự do'' :
Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
Nhìn trùng dương hát câu no lành...Cho nhau tiếng khóc hay câu vui đùa Tình yêu quê hương ấy, ở Văn Cao là bao trùm, là tuyệt đối. Ông chấp nhận hy sinh mọi những gì cá nhân nhất, điển hình là sau khi đã cương quyết dấn thân hoạt động cho cách mạng vào năm 1944 (qua lời kêu gọi của Vũ Ký, một người đồng chí hướng của ông), Văn Cao đã chấp nhận cống hiến đời ông cho Việt Minh, từ lời bản nhạc BẾN XUÂN phải đổi thành bài ÐÀN CHIM VIỆT đến chuyện làm ''gián điệp'' nội thành, chỉ huy các cuộc ám sát những người mà Việt Minh cho là nguy hiểm. Tạ Tỵ có viết là khoảng năm 1944, bạn bè không ai biết tin tức gì về Văn Cao, chỉ sau khi Việt Minh cướp chính quyền, lúc ấy bạn bè mới biết Văn Cao đã là trưởng ban ám sát nội thành Hà Nội và Tạ Tỵ cho rằng Văn Cao có một phần trách nhiệm với những vụ bắn người với bản án để lại trên xác chết trước ngày Cách Mạng thành công. Trong một bài báo tôi đã làm thất lạc, Văn Cao có nói đến một trường hợp ông đã bắn chết một người và sau khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội, ông về thấy tình cảnh người vợ của nạn nhân, từ đó ông đâm ít nói nhiều hơn trước.
Cho chiếc nôi cho nấm mồ
Cho rồi xin lại tự do...
Cả hai người đó đều không bán thân vì danh lợi. Cũng như Văn Cao, Phạm Duy cũng lên đường phục vụ cho đất nước bằng chính thân xác của mình trong mặt trận Nam Bộ như một lính chiến vào thời 1945-46 và sau này như một chiến sĩ văn hóa tại các quân khu Việt Bắc, Quân Khu 3, Quân Khu 4 và cả mật khu Ba Lòng. Ông đã nhập trận với một tâm hồn dâng hiến :Ngày bao hùng binh tiến lên Và đã chứng kiến những cái chết âm thầm và thảm thiết của những chiến sĩ vô danh. Hình ảnh của chiến tranh trong nhạc kháng chiến của Phạm Duy là hình ảnh của những con người cá nhân, họ có thể là những người lính chiến :
Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành...
XUẤT QUÂN -1945Lắng tiếng nghe hình dáng hay người vợ ở nhà may áo cho chồng :
Của người anh hùng...
CHIẾN SĨ VÔ DANH -1945Anh đi giết giặc ngoài xa hay hình ảnh rất đậm nét của người mẹ :
Em về may áo gửi ra chiến trường...
MÙA ÐÔNG CHIẾN SĨ -1947Tay nâng nâng lên, rưng rức nước mắt đầy Nơi Văn Cao con người cá nhân bị phai nhạt trong lý tưởng, trong những đoàn người, trong tập thể :
Mẹ nhìn đầu con, tóc trắng phất phơ bay
Ta yêu con ta, môi trắng bết máu cờ...
BÀ MẸ GIO LINH -1948Ðoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc hay trong bài BẮC SƠN -1945 :
Bước chân dồn vang trên đường gập gềnh xa
. . . . . . . . .
Ðoàn quân Việt Nam đi, sao vàng phấp phới
Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than...
TIẾN QUÂN CA -1944Toán chiến sĩ bước về châu xưa Trong chiến thắng, tất cả là một, không còn anh, còn tôi, chỉ là toàn dân :
Ðoàn người Việt mới quyết hi sinh một lòng...Trên dòng sông trở về đoàn người Dĩ nhiên đó là những nét chính còn thì trong Phạm Duy, nhiều khi cũng bị ảnh hưởng với khí thế của toàn quốc chiến mà quên đi con người cá nhân, nhất là trong giai đoạn ông ở Việt Bắc những ngày đầu kháng chiến :
Reo mừng vui trên sóng nước biếc
Trôi đầy sông bao đám xác thù
Dân hân hoan nghe sóng reo vi vu xa xa...
TRƯỜNG CA SÔNG LÔ -1947Một đoàn người trai hiên ngang Trong làn sóng hồ hởi, Phạm Duy lúc ấy cũng nâng người lãnh tụ kháng chiến là Hồ Chí Minh :
Ðeo trên vai nợ máu xương...
KHỞI HÀNH -1947Ôi quê hương, những con đường kháng chiến hay :
Dân theo cụ Hồ, đã phất cờ cùng lên...
NGỌN TRÀO QUAY SÚNG -1947Ôi tưởng chừng nghe tiếng Riêng Văn Cao cũng có bài CA NGỢI HỒ ChỦ TỊCH năm 1949, Hồ Chủ Tịch trong bài này mang một hình ảnh trang nghiêm của cha già dân tộc, lãnh tụ một đảng phái nhân dân với giai cấp công nhân tiền phong :
Cha già vọng trời Ðông...
ÐƯỜNG VỀ QUÊ -1947Bao công nhân tiền phong đưa nhân dân vùng lên Ðiểm khác biệt là nơi Phạm Duy, hình ảnh cha già có vẻ lãng mạn, tình cảm cá nhân, trong khi nơi Văn Cao, đó là lời thành kính, tin tưởng. Trong tình yêu quê hương vào thời chiến, Văn Cao luôn luôn dâng hiến tất cả để phục vụ một ngày thắng lợi toàn dân, một ngày sáng rực nắng trời, ông chỉ muốn ngừng trong vinh quang :
Nhân dân theo từng bước cha già...Nước non Việt ta vững bền... (TIẾN QUÂN CA -1944) Còn phần Phạm Duy, ông chỉ muốn ngừng trong hoà bình, không màng vinh quang lắm :
Giặc chưa tan chiến đấu chưa thôi... (LÀNG TÔI -1947)Thu ơi Thu, Ta vỗ súng ca và coi đó là món nợ máu xương phải trả :
Ca cho đời, cho Thu với ta
Nơi biên khu, mong nhớ khúc ca
Câu Thái Hoà cho muôn chúng ta...
THU CHIẾN TRƯỜNG -1946Người đi chiến đấu, xác rơi ngoài đồng Trong cái mối tình lớn đối với đất nước, phản ứng và sự đóng góp của Văn Cao và Phạm Duy đã có khác nhau, một cống hiến và hi sinh cho tập thể, một đề cao con người trước đã, cống hiến và hi sinh chỉ để vinh danh con người.
Nợ nần máu xương, ai nấy trả xong...
NỢ XƯƠNG MÁU -1946
Nhưng điểm chung là cả hai đều vì Việt Nam, cho tự do và cho con người Việt Nam :Ngày mai bao ấm no Còn Văn Cao ca ngợi Hồ Chủ Tịch chỉ để :
Diệt xong quân Pháp kia
Cười vang ta hát câu Tự Do...
(Phạm Duy, NHẠC TUỔI XANH -1947)Ðế quốc tan tành hết Và chữ ''người'' mà Phạm Duy yêu cũng sẽ lên ngôi :
Vinh quang nhân dân Việt Nam...Từ đây người biết thương người Trong một mối tình yêu quê hương, mẹ Việt Nam chắc hẳn sung sướng với hai người con lớn mà tài hoa như Văn Cao và Phạm Duy, tuy hình thức biểu lộ có khác vì hoàn cảnh lúc đó quá ngang trái nhưng cùng một tấm lòng thành và một sự hi sinh rất đẹp.
Từ đây người biết yêu người...
(Văn Cao, MÙA XUÂN ÐẦU TIÊN -1975)
Ðó là biểu tượng cho tình ái quốc của người Việt đang dần dần thoát thai khỏi vỏ ốc biên giới quốc gia cực đoan để đến một ý thức nhân bản đẹp hơn, sáng suốt hơn.
Tuy nhiên, mặc dầu đã yêu nước như thế, đã đóng góp như vậy, cả Phạm Duy lẫn Văn Cao đều mang mối hận lòng, không được thấy ánh chiêu dương trên bến Xuân nước Việt. Ðến nay, nhạc Phạm Duy vẫn còn bị cấm hát tại Việt Nam và dù xa quê hương đã gần 20 năm, Phạm Duy vẫn không được phép về thăm xứ xở với số tuổi trên 70. Còn Văn Cao, ông đã bặt sáng tác nhạc rất lâu rồi, ông mang một tâm sự u uẩn, dằn trong sự im lặng không cùng, dằng dặc cùng men rượu.
Những đòn phép chính trị đảng phái, những tranh chấp quyền lợi trong và ngoài Việt Nam đã đẩy cả hai con người tài danh Việt Nam ra bên lề quê hương của họ.
Sau những bóng ác thần phong kiến, thực dâm. đế quốc, đây là thời ngự trị của hung thần đỏ và dollars, bè phái nhiễm mầu sắc địa phương. Bọn kên kên cơ hội xử dụng những tên lãnh tụ già nua độc đoán lẩm cẩm thống trị Việt Nam.
Nhưng làn sóng lịch sử đang ùa tới, rồi thì số phận các con người chính trị lợi dụng xương máu người Việt, hãm hiếp lòng tin con người cũng sẽ như những bình vôi mà Phan Khôi đã viết như sau: ''... Một đêm muà hè, gió nam như bão, sáng trăng mờ mờ, tôi rủ mấy thằng bạn lứa tuổi với tôi đi chơi dọc đường cái làng, đi qua đình và chùa, bao nhiêu ông bình vôi thờ trên tường thành chúng tôi đều hất một loạt xuống đất cả. Sao lại làm như thế, không cần lý luận...'' Có điều rằng kỳ này, sẽ không như trong quá khứ, có lẽ người ta sẽ làm một cách ôn hoà hơn là đem dẹp mấy cái bình vôi cũ mà tuyển lựa mấy cái mới thay vào. Cái nào mà dính chặt quá, sẽ phải bứng nó đi để đặt nó vào đúng vị trí lịch sử của nó.
Vào ngày đó, những quyền lợi và tâm hồn cá nhân sẽ được tôn trọng trong một tinh thần tập thể biết tự trọng, có kỷ cương và có sức mạnh, đấy là lúc người Việt ba cõi sẽ cùng chia chung những tiếng hát tuyệt vời không bao giờ ngưng nghỉ từ Ải Bắc tới Ðảo Nam của hai thiên tài. Và đây là lúc đôi cánh chim giang hồ Văn Cao và Phạm Duy đã cùng về dưới một bến Xuân. Cái cá nhân tự do của Phạm Duy đã kết hợp trong sự ý thức trách nhiệm tập thể của Văn Cao. Cái cán cân nằm ở chiều ngang của mức quân bình.
Còn năm năm nữa là hết thế kỷ 20, tôi tin rằng cái ngày đẹp như vậy phải là sắp đến.
Phạm Thế Ðịnh
----------------------------------------------------------------
(Australia)
05 -11 -1995
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trăm Hoa Ðua Nở Trên Ðất Bắc,1956 Cơ Sở Xuất Bản SUDASIE
Thiên Thai, tuyển tập nhạc Văn Cao (Nhà xuất bản TRẺ, 1988)
Ngàn Lời Ca, Phạm Duy 1988-89
Hồi Ký I và II, Phạm Duy, 1989>br? Hồi Ký Tạ Tỵ (Nhà xuất bản Thằng Mõ 1990)
Câu Chuyên Văn Nghệ : Về Ngày Sinh Của Văn Cao (Báo VN đăng lại ở hải ngoại)
Buồn Vui Một Thuở (Báo Lao Ðộng)
Nhạc Sĩ Văn Cao Tròn 70 Tuổi - Lê Hà Vân (Báo Phụ Nữ Ngày Nay, VICTORIA, Úc đăng lại)