Trần Văn Ân
Liệu Có Mùa Xuân Dân Tộc
Khi Bầy Chim Hồi Xứ ?

Giữa lúc mà cả người Việt cộng sản va không cộng sản, cả người Việt trong nước lẫn cả người Việt ngoài nước vẫn còn đang hoài nghi, lúng túng trong cuộc chuyển mình sinh tử trăm năm của đất nước thì người nhạc sĩ già Phạm Duy tung ra bản trường ca Bầy Chim Bỏ Xứ, trang trọng như một lời tỏ tình vĩnh biệt với quê hương và nghiêm trọng như một lời trăn trối cho những người dân Việt còn sống sót sau nhiều chục năm chinh chiến, hận thù.

Bầy Chim Bỏ Xứ mặc dù ra đời vào đúng thập niên cuối cùng của thế kỷ Việt Nam thứ 20 đầy chinh chiến nhưng trong tiến trình sáng tác của Bầy Chim Bỏ Xứ thì cái xót xa khắc khoải về thân phận quê hương đã trải dài trong sự nghiệp Phạm Duy hầu như trọn đời và sự thai nghén cả tứ và nhạc trong Bầy Chim Bỏ Xứ đã ươm mầm trong suốt 15 năm dài dặc (1975-1990). Một công trình sáng tác kỹ lưỡng như vậy vào lúc tác giả thượng thọ 70 tuổi, chắc chắn phải là một cao điểm khác trong sự nghiệp Phạm Duy, một cung hiến quý báu khác của người nhạc sĩ cho dân tộc.

Câu chuyện Bầy Chim Bỏ Xứ như sau :
Một buổi trời sa đất lở trên đất Việt. Một đám chim dữ tợn chiếm cứ toàn vùng trời Việt. Cả bầy chim hiền kinh hoàng, xao xác lìa bỏ quê hương, bỏ trốn ra những vùng trời xa lạ. Trên đường bỏ nước, có con chim mệt rũ, buông cánh gục xuống biển sâu, có con sầu não tự cấu cổ chết, có con lạnh cóng mất tiêu giọng hót ngọt ngào. May thay, có một ngày trời yên biện lắng, én nhạc bay đầy bỗng báo tin vui mùa xuân trở lại. Cùng với chim thiêng như chim Hồng, chim Lạc, bầy chim hiền rủ nhau hồi xứ, góp công xây dựng lại Mùa Xuân DânTộc, mời đám chim hung tợn ra giữ biên cương.

Trường ca Bầy Chim Bỏ Xứ được Phạm Duy khởi đầu thai nghén từ 1975, sửa đi sửa lại nhiều lần cho tới 1985 mới tạm hoàn tất. Sở dĩ mới tạm hoàn tất vì cái nút mấu chốt cuối cùng của bản trường ca chưa gỡ ra một cách nhẹ nhàng ổn thỏa. Ðó là cái khúc mắc trong cấu trúc của câu chuyện : '' Làm sao cho đàn chim hiền hồi xứ xây dựng lại mùa xuân dân tộc trong khi đám chim dữ vẫn còn nắm giữ vùng trời Việt ? ''

Trong những lần gặp gỡ Phạm Duy vào lúc tác giả tu chỉnh nắn nót lần chót tổ khúc này (Phạm Duy gọi Bầy Chim Bỏ Xứ là tổ khúc) tôi có gợi ý về hai hình thức kết cấu. Một là lấy linh thiêng giải quyết việc trần, tỉ dụ như một Phù Ðổng hiện về dẹp tan đám ác điểu hay một cơn bão tố làm rụng hết cánh chim quạ, chim cú, chim kên. Hai là có trận thư hùng khốc liệt, máu đổ thịt rơi rồi đàn chim hiền toàn thắng, đám chim dữ bỏ chạy.

Câu chuyện bàn qua rồi bỏ đó cả năm. Riêng trong thâm tâm, tôi thấy kết cấu như vậy vẫn không ổn vì cả hai lối giải này đều trái với sự thực và sẽ không bao giỡ xẩy ra. Lối giải thứ nhất dựa vào linh thiêng chỉ là một cách trốn chạy thực tế, yếu nhược, tiêu cực, không phù hợp với bản chất năng động của cho người Việt. Lối giải thứ hai viển vông vì Bầy Chim Bỏ Xứ vừa hiền, vừa lang thang xao xác bốn phương trời, làm sao mà họp đàn lại được để đánh đuổi lũ chim dữ ?

Thế rồi vào năm 1987m cuốn sách Ngàn Lời Ca của Phạm Duy ra đời, trong Phạm Duy cho in lại toàn bộ lời ca của các bản nhạc mà ông đã soạn trong suốt bốn chục năm. Tôi tìm đọc lời của Bầy Chim Bỏ Xứ, đặc biệt chú ý tới các khúc kết cấu của bản trường ca.

Khúc 14 và 15 (trang 356-357) ghi như sau :

Lặng nghe đây con chim Hùng, đây con chim Việt
Hỡi những cánh chim huyền sử mơ màng
Những cánh chim trên Bạch Ðằng Giang
Những cánh chim vui cảnh Tao Ðàn
Lướt gió bay qua miền Chi Lăng
Hót líu lo trên đồi Yên Thế
Những cánh chim kêu gọi đàn con
Chắp cánh bay trở về quê hương
Những cánh chim kết đoàn bên nhau
Quyết đấu tranh cho nước Việt yêu

Bầy chim hồi xứ
Trời mây đón đưa chim
Diều, kên, quạ, cú
Ðuổi lui sống trong đêm...

Như vậy là Phạm Duy đã dựa vào linh thiêng (chim Hồng, chim Lạc) kêu gọi bầy chim hiền kết đoàn bên nhau, quyết đấu thanh, đuổi chim dữ lui vào đêm.

Ba năm trôi qua cho tới giữa năm 1990. Trong một buổi họp mặt tại nhà Phạm Duy, có Thái Thanh, Thụy Khuê (Paris), Bùi Duy Tâm, Ðào Mộng Nam, Vũ Anh người ca sĩ trong băng nhạc Bầy Chim Bỏ Xứ và tôi, Phạm Duy khoe đã thu xong phần nhạc của bản trường ca và mời Vũ Anh hát thử toàn bản nhạc.

Tôi lại đặc biệt chú ý tới đoạn bầy chim hồi xứ. Tôi ngạc nhiên và thích thú khi nhận ra Phạm Duy đã đổi hẳn lời của đoạn này như sau :

Những cánh chim trên Bạch Ðằng Giang
Những cánh chim vui cảnh Tao Ðàn
Lướt gió bay qua miền Chi Lăng
Hót líu lo trên đồi Yên Thế
Những cánh chim nối lòng nhân dân
Khiến ó, ưng và diều hung hăng
Muốn đắp xây uy quyền độc tôn
Ðã thấy bơ vơ giữa loài chim...
. . . . . . . . . . . . . .
Vì hung tợn quá
Và không biết yêu thương
Diều hâu bạo dữ
Mời đi giữ biên cương
Cho cánh chim ngoan
Xây đắp quê hương
Câu hót hân hoan
Cho mãi xuân sang...

Trong đoạn kế tiếp, Phạm Duy ghi thêm :

Chim đi rồi một buổi chim về
Cho Tình Yêu nở khắp miền quê
Vì đã không làm nên mùa Xuân thắm
Thì một ngày chim dữ cũng lui chân
Ðể thấy giang sơn là không riêng rẽ
Của lũ chim nào, là chốn vui chung...

Như vậy là sau gần ba năm suy tư (từ 1987 tới 1990), Phạm Duy đã giải quyết được cái vấn nạn cho dân tộc và tìm ra lối thoát cho bầy chim bỏ xứ có khứ, có hồi. Phải nói đây là một phút sáng kiến xuất thần của người nghệ sĩ, đây là Phạm Duy tìm lại được Phạm Duy, một Phạm Duy tràn đầy tình thương dân tộc, bao giờ cũng trung hậu với chính mình và với đất nước.

Chẳng phải bây giờ 1990, Phạm Duy mới nói lên tình thương dân tộc. Với non một ngàn bài ca trong đó có ba bản trường ca (gồm trên dưới 50 ca khúc), nhạc Phạm Duy đã trải dài tình thương dân tộc trên dòng lịch sử suốt nửa thế kỷ từ những năm kháng chiến tới những thập niên đất nước phân ly chinh chiến hai miền, rồi tới những năm nhọc nhằn cho cả triệu người bỏ nước ra đi lạc lõng và cả chục người ở lại lạc loài. Tình ca quê hương của Phạm Duy đã gắn bó vào đất nước như âm hưởng của hồn thiêng sông núi như tiến g khóc tiếng cười, tiếng gào thét của toàn dân và bây giờ là tiếng nói trong mơ của người di tản, tiếng hót ngượng ngùng của bầy chim biệt xứ.

Từ 1953, cách đây đúng 37 năm, bản Tình Ca (quê hương) đã vọng lên những lời hát êm đềm đầy tình tự dân tộc :

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời...
. . . . . . . . . . . . . .
Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh...
. . . . . . . . . . . . . .
Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu...

Một năm sau, khi đất nước phân ly, trường ca Con Ðường Cái Quan vẫn là bản tình ca quê hương trải dài từ Ải Nam Quan tới mũi Cà Mâu, từ mối tình dã sử với Nàng Tô Thị (miền Bắc) tới mối tình lịch sử của Công Chúa Huyền Trân (miền Trung) tới sự kết duyên Nam Bắc một nhà của lữ khách lương dân (miền Nam).

Mười năm sau, 1964, chiến tranh Nam Bắc bắt đầu phát khởi. Trường ca Mẹ Việt Nam là một thông điệp tình thương dân tộc vĩ đại như biển Thái Bình, cao ngút như núi mẹ Trường Sơn, phì nhiêu như dòng sông mẹ Hồng Hà. Nhưng mẹ, không khỏi đau lòng khi thấy đàn con sông tranh chấp đảo điên :

Sông đỏ như máu tranh đấu sông nâu
Sông vàng xanh yếu kêu cứu sông giầu
Sông nhuộm vàng mau chia nhau uốn khúc khoe mầu
Sông rồng lôi kéo lũ rắn đi cắn sông đào
Khoan hời hò khoan
Sông tìm vẻ vang cho nên quên lời Mẹ khuyên
Khoan hời hò khoan
Không tìm tình thương cho nên không đường về tim...

Ðau sót hơn nữa là đất Mẹ bị phân đôi :
Nước ân tình đổi thành ra nước căm hờn...
. . . . . . . . . . . . . . .
Chia anh em vì quên tiếng gia đình
Chia tay chân và cắt đứt ngang mình
Chia thân hình yêu đương
Cắt da thịt chia xương...

Mẹ Việt Nam (1964)

Kể tữ sau 1964, đất nước sa lầy trong một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn Nam Bắc càng ngày càng tàn khốc. Người lính Bắc cầm súng Nga, người lính Nam cầm súng Mỹ tiếp tục bắn giết nhau để cùng gìn giữ một mảnh đất mang tên Việt Nam.

Những lời kêu gọi tình thương dân tộc nhẹ nhàng kín đáo không còn phù hợp nữa. Phạm Duy trung thành với sứ mạng khóc cười theo mệnh nước vẫn tiếp tục kêu gọi tình thương dân tộc, nhưng lời kêu gọi lúc này trực tiếp hơn, mạnh mẽ, cứng rắn hơn.

1965, mười bản Tâm Ca ra đời. Ðề tài tuy khác nhau nhưng chung quy vẫn chỉ là tiếng nói từ con tim phát ra, vừa khóc cho thân phận đất nước chiến tranh (Tôi Ưóc Mơ, Giọt Mưa Trên Lá, Ngồi Gần Nhau...) vừa kêu gọi yêu thương dân tộc (Ðể Lại Cho Em, Tiếng Hát To...) :

Tôi sẽ hát to hơn súng nổ bên bờ ruộng già
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tôi sẽ hát to hơn những kẻ khơi ngọn lửa thù
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Toàn dân tôi ca khúc yêu đời
Một ngày tan chinh chiến thật rồi
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Lời tôi cao như tiếng ngọn diều
Lời tôi sâu như tiếng tình yêu...
Tiếng Hát To

Hay là :
Ðể lại cho em một nước phân lìa
Ðể lại cho em một giống nòi chia
Hận thù nhân danh chủ nghĩa
Bạo tàn vênh vang bề thế
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Nhưng em thương anh, thương anh cho súng phải thở dài
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Nhưng em thương anh, thương anh em đón nhận gia tài...
Ðể Lại Cho Em

Tới những năm 67-68, đặc biệt sau vụ tổng công kích Tết Mậu Thân, chiến tranh tàn khốc đến độ người dân bên này và bên kia chiến tuyến không còn rung động trước xác chết. Tiếng nói con tim của Tâm Ca không còn đủ lực vang vọng nữa. Giữa làn bom đạn của đôi bên, giữa những xác chết ngổn ngang từ ngày này qua ngày khác, tình thương dân tộc hầu như hoàn toàn tiêu tan trong con người Việt Nam. Nhạc Phạm Duy như gào thét trong tuyệt vọng :
Tôi không phải là cỏ cây
Tôi không phải là gỗ đá
Nên tôi khóc Việt Nam tôi
Ròng rã ba đời không biết vui
. . . . . . . . . . . .
Tôi không thể nào im tiếng
Nên tôi thét vào thinh không
Lời nói hãi hùng hơn tiếng bom
Tôi Không Phải Là Gỗ Ðá

Trong những bản nhạc Chuyện Hai Người Lính, Nhân Danh, Bi Hài Kich, Ði Vào Quê Hương... đã đồng loạt nổ tung cái căm phẫn của con người Việt Nam trước cảnh chinh chiến khốc liệt giữa hai miền và trước cảnh tình thương dân tộc tan biến :
Có hai người lính ở chung một làng
Cùng yêu Tổ Quốc Việt Nam
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Có hai người lính nằm trên ruộng đồng
Cùng ôm khẩu súng chờ mong
Có hai người lính, một sớm mai hồng
Giết nhau vì nước Việt Nam...

Chuyện Hai Người Lính (1968)

Năm 1978. Mười năm sau thảm kịch Tết Mậu Thân và ba năm sau ngày bỏ nước ra đi, hoà bình tuy đã trở về trên quê hương nhưng đất nước vẫn tiếp tục điêu linh, hàng trăm ngàn quân cán miền Nam bị tù đầy, hận thù vẫn ngút đầy cả lòng người thua lẫn kẻ thắng. Tình thương dân tộc vẫn là một giấc mơ không bao giờ tới. Từ THỊ TRẤN GIỮA ÐÀNG (Midway City) của nước Mỹ lạc loài, Phạm Duy đã quay về cầu xin cả Chúa, cả Phật, cả tiên tổ của nòi Việt :
Phật cho em bàn tay măng búp
Xoa cõi đời chan chứa đau buồn
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Người van lơn, lạy ơn Thiên Chúa
Ban cho người Bác Ái, Khiêm Nhường
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Mẹ cho ta ngàn năm sử sách
Nước non mình bao lúc nguy nàn
Bàn tay ta, cùng giơ tay nắm
Thương nhau nhiều nên có Việt Nam...
Tình Nhân Loại Nghĩa Ðồng Bào (1978)

Gần đây nhất, nghĩa là năm 1988, tập Hát Cho Năm 2000 ra đời vào lúc Phạm Duy đã 68 tuổi, đó là một lời thở than và cũng là một lời dặn dò cho thế hệ mai sau. Người nghệ sĩ già đã sống cả nửa thế kỷ hận thù bây giờ chỉ còn hi vọng sẽ tìm được tình thương trong thế kỷ mai hậu :
Ngày xưa đó, chia tay vội vã
Trăm năm rộn rã, say sưa một mùa
Nào ngờ đâu, trong cuộc được thua
Trăm năm vật vã, trăm năm hận thù
. . . . . . . . . . . . .
Một nửa đời sau, tưởng là châu báu
Nhưng xương máu nhiều, bao vây sớm chiều
Còn gì đâu cho một tình yêu
. . . . . . . . . . . . .
Hẹn nhau sẽ nâng niu ngày tới
Năm 2000 với trăm năm (yêu thương) thật dài
Hẹn Em Năm 2000 (1988)

Loạt bài Hát Cho Năm 2000 được viết ra vào lúc tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ đã hoàn tất và giải được cái vấn nạn làm sao dựng được mùa Xuân dân tộc giữa bầy chim. Với tổ khúc này, giấc mơ của Phạm Duy và có lẽ cũng là giấc mơ của người dân Việt, là cả bầy chim dữ và bầy chim hiền biết rũ được tất cả để quay về với cội nguồn dân tộc :
Cất tiếng vang lừng trong gió mới
Trong tình nồng nhiệt lũ chim ơi
Giữ nước, cao giọng con quốc quốc
Canh nhà, rền rĩ tiếng gia gia...
Khúc 18 - Bầy Chim Bỏ Xứ

Lịch sử dân tộc vừa trải qua một giai đoạn vừa kinh hoàng, vừa vĩ đại. Gần một triệu người bỏ nước ra đi. Hàng trăm ngàn người vượt biên chết trên biển cả. Phải chờ tới mười lăm năm sau mới xuất hiện một tác phẩm nói lên được cái kinh hoàng, cái vĩ đại của cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

Phạm Duy sẽ không còn ở lâu với chúng ta. Chắc Bầy Chim Bỏ Xứ là tác phẩm cuối cùng của ông. Rõ ràng đó là một lời trăn trối, một di chúc, một thông điệp thủy chung như nhất, đã nhắc đi nhắc lại qua nhiều năm tháng... gửi cho người dân lành nhỏ bé như một tiếng than van, gửi cho các lãnh tụ gần xa như một lời cáo giác, gửi cho tuổi trẻ trong và ngoài nước như một nhắn gọi cuối cùng.

Thông điệp Phạm Duy thật giản dị, thật rõ ràng, xuất phát từ cái tâm thành của người nghệ sĩ chứ không phải từ cái trí lệch lạc của người làm chính trị. Thông điệp đó là : '' Chỉ có tình thương tổ quốc mới cứu được Việt Nam. Chỉ có sự đồng tâm dân tộc mới mang lại cơm no áo ấm cho muôn người... ''

Hôm nay, ngày 5-10-1990, ngày lễ thượng thọ thất tuần của Phạm Duy, tôi muốn chúc thọ anh các điều anh mong ước : thứ nhất, khi mùa Xuân dân tộc dựng lại trên quê hương, cùng với bầy chim hồi xứ, anh sẽ đi chân đất về làng, thăm lại những nẻo đường anh đã đi qua trong thời trai trẻ.

Và khi tuổi trời đã tới, anh sẽ được bình yên nằm trong lòng đất mẹ mà trọn đời anh đã thờ phụng tôn vinh. Trong mộ phần, anh sẽ thanh thản nằm nghe toàn dân vang ca bản quốc hồn ca muôn đời đã có :

Việt Nam, Việt Nam, nghe tự vào đời
Việt Nam, hai câu nói
Bên vành nôi: Việt Nam, nước tôi
. . . . . . . . . .
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
. . . . . . . . . .
Tình Yêu đây là khí giới
Tình Thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người
Việt Nam ! Việt Nam !
Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời
Việt Nam ! Việt Nam !
Việt Nam muôn đời !

Trần Văn Ân
Cựu Kim Sơn, mùa Thu 90


Trở Về Tổ Khúc

Trở Về Phạm Duy Tổng Quát