Quỳnh Giao
Mơ Quyên Về Ðậu Ở Thôn Ðoài

Với hàng ngàn lời ca đã viết cho tân nhạc Việt Nam, theo tôi, Phạm Duy là một trong những nhà thơ lớn của dân ta trong thời đại này. Nhạc Phạm Duy, với những giai điệu gần gũi với hồn nhạc của người Việt, đã thấm sâu vào mọi người trong chúng ta, nên hầu như ai ai cũng biết, cũng yêu, cũng nhớ một số ca khúc của ông. Nhưng, cái làm cho người ta nhớ hơn cả, chính là những lời ca của Phạm Duy. Người ta nhớ lời còn hơn nhớ nhạc vì chất thơ rất phong phú trong các ca khúc của ông. Phạm Duy là một nhà thơ có tài năng thiên phú về âm nhạc. Nhưng, với Bầy Chim Bỏ Xứ, Phạm Duy giữ vai trò của một nhà sưu tầm. Và chất thơ trong tổ khúc mang nét thơ mới, với chủ âm thoát khỏi khuôn khổ ''sáu tám'' hay ''song thất lục bát'' của thơ ta. Ông sưu tầm trong ký ức của mình và trong kho tàng văn chương truyền khẩu của dân ta những hình ảnh về chim, dùng làm ẩn dụ cho một loại liên ca khúc viết về dân tộc.

Trực giác của nghệ sĩ chân chính thường có những phút khải thị dị thường, cho phép họ tiên đoán những biến động lớn của bản thân, hay của xã hội. Phạm Duy cũng vậy, ông viết: ''Vào đầu năm 1975, với cảm năng của loài chim báo bão, tôi thấy trước được sự phải bỏ nước ra đi''. Ông có ý định viết một trường ca nữa, về Bầy Chim Bỏ Xứ. Tác phẩm được thai nghén từ thời 1975 nhưng đến mười năm sau mới hoàn tất, và gần đây mới được ông tạm hoàn chỉnh thành một Tổ Khúc, một suite orchestrale gồm 18 đoản khúc. Phạm Duy khiêm nhượng xin người nghe Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ với tấm lòng độ lượng, ông cũng muốn các thân hữu góp ý phê bình.

Ðầu tháng mười này, bạn hữu của ông sẽ quây quần bên ông, cùng tổ chức một lễ sinh nhật thật ý nghĩa cho ông. Nhân sinh thất thập cổ lai hy, lẽ thường là như vậy. Nhưng, chắc là Phạm Duy không muốn chúng ta nói đến ngày vui này theo lối mừng thất tuần thượng thọ, nghe nó già nua quá, không hợp với ông. Trong tinh thần chung vui cùng một nghệ sĩ lão thành và có nhiều công lao cho tân nhạc của dân ta, tôi xin được chân thành bày tỏ cảm nghĩ của mình, của một người đã được nghe và hát nhạc Phạm Duy trong nhiều năm, về Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ, với sự tri ân của người thưởng ngoạn.

Phạm Duy giới thiệu là Trường Ca Con Ðường Cái Quan có tính chất tả thực, Trường Ca Mẹ Việt Nam có tính chất tượng trưng và Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ có tính chất ẩn dụ. Theo tôi, muốn viết cả một trường ca (hoặc Tổ Khúc như cách ông gọi) bằng những ẩn dụ, người viết phải có những kiến thức văn hóa thật sâu sắc, và phải tổng hợp được những hình ảnh thu thập trình bày cho bóng bẩy. Phạm Duy đã chứng tỏ khả năng và sự táo bạo của ông với 18 đoản khúc dài ngắn khác nhau, và hình ảnh của cả trăm loài chim đất nước.

Hình ảnh loài chim gần gũi nhất trong tâm khảm của ông, có lẽ hình ảnh của chính ông, đó là loài Ðỗ Quyên, Ðỗ Vũ, chim Cuốc, chim Quyên. Tổ Khúc bắt đầu với bầy chim buồn bã này, mở ra câu chuyện Chim Quyên từ độ bỏ thôn Ðoài và cũng kết thúc với ước mơ chim Quyên về đậu ở thôn Ðoài. Nối kết ở giữa là những thao thức kỹ thuật của chính ông về cách mở và đóng cho cả tác phẩm, và những khắc khoải tâm tư của ông về tương lai các loài chim Việt, về đồng bào của ông. Trong ý hướng đi tìm những ẩn dụ bóng bẩy, Phạm Duy bắt được hình ảnh tái sinh trong triết lý luân hồi của Ðông phương: chim Ðỗ Quyên là hồn Thục Ðế, mất nước ở phương Bắc bay về đậu ở cành Nam, hóa thân thành chim Cuốc, mùa hè ra rả đánh thức lòng ái quốc của người mất nước... Thêm một lần mất nước nữa, chim rời cành Nam tỵ nạn mãi tận phương Tây, và thảm sầu thổ máu chết nơi xứ người. Nhưng, một lần nữa, chim lại hóa sinh thành con chim Quốc Gia, kêu gào sự nhớ thương trong tuyết phủ lạnh lẽo.

Tôi viết là Phạm Duy táo bạo, vì ông miên man đi từ Ðông sang Tây, kết hợp triết lý luân hồi của Á Ðông với huyền thoại tái sinh của chim Phượng Hoàng thường gặp trong văn chương Tây phương: Chim Phượng Hoàng là hình ảnh của vầng ô, của mặt trời, sinh ra từ đất Ethiopa, vun cây thơm thành dàn hỏa, tự thiêu xác mình và tái sinh trong tro tàn để bay về Ai Cập... Trong tác phẩm của ông, chim Phượng đó xuất hiện bên cạnh những chim Hồng, chim Lạc, là vật tổ của dân ta, một cách dị thường mà rất tự nhiên!

Phải nói là Phạm Duy đã ấp ủ hình ảnh bầy chim sầu thảm này trong mười năm trường và ông đã viết tổ khúc trong những chuyến du ca từ Hoa Kỳ sang Âu Châu, từ Thị Trấn Giữa Ðàng Midway City của ông sang Luân Ðôn, Ba Lê, La Mã, Stuttgart, Munchen, Salzburg hay Venise, Pisa của Ý Ðại Lợi, nên tôi không ngạc nhiên khi thấy cánh chim Việt bay nhảy trên những huyền thoại Ðông Tây như vậy.

Ðiều ngạc nhiên là ông còn nhớ lại những loài chim của đồng đất nước ta, những con bồ các, chim ri, bìm bịp, giẻ cùi, chèo bẻo, chào mào... Nhiều con mình chỉ biết tên chứ cũng khó hình dung được hình dạng hay tiếng hót. Kể cả con chim ông gặp ở Hà Giang, Tuyên Quang năm 1947, con chim ''Bắc Quang Bắc Mục'' mà tôi đoán là ''Bắt Cô Trói Cột'', một giống bìm bịp có nghe thấy trong các truyện cổ tích của miền Bắc. Phạm Duy là một nhà sưu tầm trong ý nghĩa đó.

Về nhạc, người nghe sẽ cảm được một số chủ đề chính của Tổ Khúc. Chủ đề một, nổi bật nhất là ở các đoạn một, ba, sáu, mười hai, mười lăm... đã được Phạm Duy làm phong phú thêm khi chuyển từ nhịp bốn/bốn rất Việt Nam sang nhịp ba/bốn có âm hưởng Tây phương hơn, hoặc khi trình bày nhanh và mạnh hơn tùy theo nội dung. Chủ đề hai, lần đầu giới thiệu trong đoạn hai (Chim Quyên từ độ ở quê nhà) đã trở lại và da diết theo đuổi người nghe trong nhiều đoạn sau. Chủ đề ba, dồn dập và lãng mạn, được chuyên chở bởi lối hòa âm cho hai giọng. Chủ đề hai khiến người nghe xúc động nhất.

Trong cả Tổ Khúc, tôi đặc biệt yêu thích đoạn sáu Một Ðôi Phượng Quý, nhạc hay, hòa âm xuất sắc, một phần của đoạn bảy Trên Cành Vàng, Con Hoàng Khuyên, lúc ông chuyển từ cung trưởng xuống cung thứ (khi lũ chim ri gọi nó bay đi. Theo Quốc, theo Gia, bỏ xứ đi xa), và đoạn mười sáu, Bầy Chim Huyền Sử thật hùng tráng và ý nghĩa cả về nhạc lẫn lời.

Tôi không dám nhiều lời về kỹ thuật, chỉ ghi nhận những cảm xúc nổi bật nhất khi nghe tác phẩm của ông.

Có những đoạn Phạm Duy sử dụng dân ca rất hài hòa với lời (Lên rừng ba mươi sáu thứ chim, với điệu cò lả) có những đoạn người nghe bắt gặp nét nhạc rất Trung Hoa thời hiện đại (đoạn chín: Én bay thấp, Én bay cao, đoạn mười ba: Én bay dọc, Én bay ngang) có những phảng phất không khí Ðạo Ca với nhiều nét láy lại và những nốt ngang (đoạn bảy).

Song song, Tổ Khúc cũng có những đoạn làm người nghe thấy buồn u uất (Chim Quyên phải từ bỏ quê mình, bay về miền tuyết phủ buồn tênh. Thổ máu tươi một đêm chim chết...) và chuyển tiếp thần tình nhờ tiếng hát Kim Tước.

Về hòa âm và trình tấu Phạm Duy cùng thứ nam Duy Cường đã tận dụng những kỹ thuật hiện đại, vào đầu bằng không khí rất New Age với hình ảnh hoang vu và kinh hoàng màu đỏ, một thứ bình minh sau ngày tận thế. Theo tôi, những đoạn hòa âm dễ thương nhất là đoạn sáu, cuối đoạn bảy, đoạn mười hai Bầy chim nghìn xứ...

Kim Tước là một danh ca, nhưng Tổ Khúc thực hiện lần đầu này, cô không giữ phần chính mà vẫn làm người nghe yêu thích nét phong phú và điêu luyện của tiếng hát.

Vũ Anh có giọng thật tốt, và rất thích hợp với những giai điệu dân ca, vui và mạnh. Tôi thiển nghĩ là Vũ Anh sẽ còn tiến rất xa, và có đôi lúc ngạc nhiên khi nghe anh hát giống tiếng hát của chính tác giả.

Tôi mong là trong một tương lai không xa, chúng ta sẽ được nghe lại Tổ Khúc với một ban đại hợp xướng và một ban đại hòa tấu hùng hậu, phụ họa cho hai tiếng hát tuyệt vời này.

Tôi nghĩ là phải có một sự thực hiện lớn như vậy mới xứng đáng với nội dung của tác phẩm và công phu của tác giả.

Về bố cục, Tổ Khúc sẽ có dư âm khoáng đạt, và lâu dài nếu kết thúc bằng hình ảnh và nét nhạc hùng tráng của Bầy Chim Huyền Sử: sau khi bầy chim tỉnh giấc và hồi xứ về đậu ở thôn Ðoài, bầy chim vượt khỏi những xung khắc một thời để bay vào huyền sử vĩnh cửu...

Trên đây là những ý nghĩ đầu tiên của tôi về Tổ Khúc do ''chú Duy'' đưa tận tay khi còn là một demo nóng hổi. Mong là bài viết này, như một món quà nhỏ, sẽ kịp tới ông trong ngày sinh nhật.

Quỳnh Giao


Trở Về Tổ Khúc

Trở Về Phạm Duy Tổng Quát