Nguyên Thi
Tấm Lòng Của Một Kiếp Ca Nhân

Phạm Duy, vào lúc tuổi đời đã xế bóng, vượt trên sự mong đợi của mọi người yêu nhạc ông, đã tạo được một thứ ''biến cố âm thanh'' với đại tác phẩm Bầy Chim Bỏ Xứ.

Gọi là ''biến cố âm thanh'' thực không ngoa, vì giữa giai đoạn mà ông sáng tác, âm nhạc Việt Nam vô cùng khô khan, nghèo nàn, hầu như không còn sinh khí, ở trong lẫn ngoài nước, trong nước vì sự đè nép áp bức của chế độ và đời sống không có tự do người nghệ sĩ không thể nào sáng tác thực sự, còn ngoài nước, ảnh hưởng của nhạc ngoại quốc, nhạc ''vội'' (fast music) phù hợp với đời sống tốc độ của Tây Phương hiện đại, đã lấn thứ nhạc vàng (golden music) tình cảm mà người Việt thường ưa chuộng và sáng tác. Vì thế những người ''hoài cổ'' chỉ thích nghe lại nhạc xưa gợi nhớ nhiều kỷ niệm, không mấy ai chịu khó sáng tác vì tưởng chừng chẳng còn người nghe, đành để cho...'' đàn mốc trên tay... đàn đứt dây tơ...''

Thế rồi, đột nhiên, Bầy Chim Bỏ Xứ xuất hiện, rộn rã, âm vang xót xa tha thiết, chấn động... như những vòng lốc xoáy, nho nhỏ rồi lan rộng dần, từ căn phòng hẹp của người nhạc sĩ, bay suốt các vùng Mỹ quốc bao la, rồi vượt qua đại dương đến các chân trời Âu, Á... và đã về đến tận miền đất cấm ở quê nhà. Bao nhiêu người chào đón, bao nhiêu người ngợi ca, có những trái tim rung động, có những giọt nước mắt chân tình, có những ánh mắt tràn trề hy vọng mới... Phạm Duy, một lần nữa, đã thổi được một nguồn sinh khí mới, khơi động lại một tinh thần mới trong âm nhạc Việt Nam.

Có thực chăng một nhạc khúc cũng đủ tạo thành một dấy động mới trong những tâm hồn bấy lâu chìm đắm trong đời sống nhọc nhằn và trì nặng với những áp lực xã hội và lịch sử, hay chỉ là vì lòng yêu chuộng người nhạc sĩ lão thành đến phút cuối vẫn còn muốn cống hiến cho âm nhạc mà những người nghe đã vinh danh Phạm Duy và chào đón Bầy Chim Bỏ Xứ thật nồng nhiệt ? Trước hết, xin mời bạn hãy cùng nghe qua Bầy Chim Bỏ Xứ, với những người đã được thưởng thức tác phẩm và đã ghi lại những dòng cảm nghĩ trong quyển sách giới thiệu này. Bạn có rung động cùng nhịp với họ không ? Có giọt nước mắt nào rơi trong đêm vắng cho thân phận lạc loài của những con chim xa xứ, có sự nôn nao rộn rã nào khi gợi tưởng đến ngày về, có phấn chấn hào hùng nào theo tiếng nhạc thúc quân lịch sử, có dấy động sâu xa nào theo cùng dòng huyền sử tâm linh hay có chút chơi vơi huyền hoặc nào như sắp sửa được tung mình vào không gian để đi vào '' bầu trời này hay thế giới mông mênh '' hoặc chỉ là đôi chút bất bình bực dọc khi tự đồng hóa mình với một '' loài chim ác hung hăng sai áp lũ chim non '' sắp sửa phải được ''mời đi giữ biên cương ''...

Ðiều chắn chắn là bước vào khu rừng già '' ba mươi sáu thứ chim '' này, không ai là không khỏi chút giao cảm phận mình hóa thân cùng một loài chim trong đó, và dù khen hay chê, có thích hoặc không, Bầy Chim Bỏ Xứ đã tạo ra một ấn tượng đậm đà đến người nghe. Họ cảm thấy chính mình ở trong đó, chim là người, người chính là chim. Bấy nhiêu cũng đủ chứng nhận tầm vóc và tác động của siêu phẩm âm nhạc này.

Có những người quá yêu nhạc và kỳ vọng ở tài năng của đệ nhất nhạc sĩ trong nền âm nhạc Việt Nam, cho nên cảm thấy Bầy Chim Bỏ Xứ vẫn chưa đi vào trong khối nhạc giao hưởng Tây Phương cao đỉnh, cầu kỳ và lôi cuốn khó hiểu. Có thể họ ước mong Việt Nam có được một thiên tài âm nhạc như Beethoven hay Mozart, hoặc là như Chopin, Strauss... Nhưng Phạm Duy đã từng nói, ông không bao giờ có ý nghĩ hướng mình vào con đường nhạc cổ điển Tây Phương theo những tên tuổi đó; con đường của Phạm Duy chọn đã được vạch sẵn từ lâu, lúc còn tập tễnh đứng trên sân khấu làng quê để đi trình diễn và sáng tác '' nhạc cải cách '', ông biết rõ con đường mình phải đi : con đường ''dân nhạc'', gắn liền với dân tộc, và trong suốt hơn nửa thế kỷ hành trình trong âm nhạc, ông đã phát huy đến tột đỉnh nét nhạc riêng của mình. trộn lẫn hồn dân ca Việt hòa vào hình thức nét nhạc Tây Phương, khiến cho dân ca càng thêm dễ hát dễ phổ biến đến mọi tầng lớp và khiến cho nhạc mới không quá cầu kỳ xa lạ với mọi người.

Nhạc của Phạm Duy không phải là ''nhạc thính phòng'' tháp ngà, không chỉ để nghe mà là để ''hát''. Người Việt Nam không ai là không từng hát, không từng nhớ, không từng rung động, ít nhất là một vài câu trong ngàn lời ca của Phạm Duy. Bất kỳ ở hoàn cảnh nào, môi trường nào, trạng thái nào, yêu, ghét, vui, giận hờn, nhớ hay quên, ngay cả lúc... muốn chửi toáng, chúng ta đều đuợc Phạm Duy trao tặng một câu nhạc, để tô điểm đậm đà thêm cho đời sống. Là bởi vì, Phạm Duy đã cùng rung động với chúng ta, chỉ thay chúng ta, hát và ươm lời cho những người yêu '' tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi '' được hát lên lòng mình qua tiếng mẹ,

Chưa bao nhạc Việt Nam phong phú và dễ đi vào lòng người như với Phạm Duy, gần như không có biên giới giữa dân ca và nhạc Tây Phương, hát nhạc Phạm Duy, bà mẹ quê có thể u ơ như một điệu dân ca muôn thuở để ru con buổi trưa hè nơi đồng không tĩnh mịch... hát nhạc Phạm Duy, người ca sĩ có giọng tenor cao vút khó luyện tập nhất, có thể ngân những cung bực vang rền trong thính đường sang cả... hát nhạc Phạm Duy trong đám đông xôn xao và hát khi mình quạnh quẽ nơi phòng vắng lặng... Tầm mức phổ biến như thế là nhờ âm điệu nhạc đã được Phạm Duy biến hóa đúng theo con đường ông đã chọn cho quần chúng, cho tất cả mọi người.

Người ta khó lòng thuộc nổi một điệu nhạc giao hưởng, chính cái khúc mắc cầu kỳ đó là một chất gì lôi cuốn người nghe đắm say khó hiểu. Nhưng những âm thanh muôn đời đâu cần đến kiến tạo rườm rà và phức tạp, chẳng hạn như tiếng sóng vỗ, như tiếng suối reo... có chi là cao xa biến hóa đâu, mà lại làm cho lòng người vô cùng thanh thoát ? Dân ca cũng thế, là tiếng nói thô sơ của lòng người, tuy giản dị đơn thuần nhưng chính là thứ tiếng lòng khó quên, muôn thuở. Hãy nghe các điệu nhạc dân ca địa phương của các dân tộc trên thế giới, có điệu nào là cầu kỳ phức tạp đâu, nhưng những âm thanh tiêu biểu của mọi sắc dân ấy, nghe qua không khỏi nao nao lòng. Vì nó chất chứa trong đó dòng sống của cả một dân tộc, mỗi một điệu u ơ, ậm ờ đó, đã từng trôi qua bao nhiêu trái tim buồng phổi của triệu triệu người, lớp này qua lớp khác, và điệu nhạc đơn sơ bất biến đó đã chứng kiến biết bao nhiêu đổi dời của lịch sử.

Chọn con đường dân nhạc, Phạm Duy đã đi đúng vào con đường vĩnh cửu. Mỗi quốc gia đều có một vài nhạc sĩ sáng tạo dân ca cho dân tộc mình, nhưng có không có nước nào có một nhạc sĩ tận tụy hết lòng nổi trôi theo với vận mệnh đất nước như nước Việt có một Phạm Duy. Hơn năm mươi năm làm nhạc, hơn ai hết, ông đã sống trọn vẹn qua những thăng trầm biến đổi của dân tộc, và sống bằng hết cả trái tim của mình.

Mười lăm năm nhạc Phạm Duy bị cấm hát ở trong nước, và không môi trường phổ biến ở xứ người, đến nỗi nhạc sĩ tưởng mình chỉ còn là một thứ chim '' hoàng khuyên không còn ai nghe hót '' ''chim khổ đau cấu cổ chết không hay ! '' Ðột nhiên, trên đỉnh khổ đau, ông chợt thấu hiểu, rồi bừng sống dậy, ''tái sinh lần nữa thành chim Ðỗ Quyên '', một thứ chim huyền sử mang nặng lòng yêu nước. Phạm Duy đã hiểu những gì, đã tìm thấy những gì từ nơi cõi đó ? Phải chăng là chân lý vĩnh cửu của dòng sinh mệnh dân tộc, mà không một thứ gì có thể hủy diệt. Như một thứ chim huyền thoại càng trui rèn trong lửa càng sống mạnh bay cao, mỗi lần bị thiêu là một buổi tái sinh rực rỡ. Phạm Duy đã ký thác chân lý đó vào Bầy Chim Bỏ Xứ.

Bầy Chim Bỏ Xứ ra đời đánh dấu một tuyệt vời là sự vượt lên của một người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ đích thực phải vượt lên không ngừng, ngay cả vào lúc khó khăn nhất, với sự đè nặng của tuổi người, của cuộc đời và của cả dòng thăng trầm của lịch sử. Phạm Duy đã làm được điều đó, mặc bao sóng gió, âm thầm tận tụy mười mấy năm dài để cống hiến cho dân tộc một tuyệt phẩm âm nhạc, lớn mạnh hơn cả về cả hai phương diện nhạc lẫn lời.

Ðiểm tuyệt vời nhất, cũng là thứ '' nhãn hiệu '' của nhạc Phạm Duy, đó là ý và lời trác tuyệt trong Bầy Chim Bỏ Xứ. Một điểm chúng ta có thể khẳng định là không ai, cho tới hàng trăm năm sau, có thể làm được những lời hát như một Phạm Duy. Nếu đó chỉ là những bài thơ, thì cũng là những bài thơ bất hủ. Lời hát của ông không những hay vì sự rung động truyền cảm, mà cách rót chữ của ông thực là kỳ tài, chỉ đến được bằng ngõ '' trời phú '' chứ không thể do tư duy mà thành. Thực là tự nhiên, thực là duyên dáng, không cầu kỳ nắn nót mà chứa chan ý nghĩa, tình cảm, và tràn ngập hình ảnh đẹp hơn cả thực tại: Lòng tôi bỗng nở như là đóa hoa - Chiều rơi thoi thóp trên vài luống khoai - Ðêm thơm như một dòng sữa - Ta đi bằng một sợi tơ, lung linh luồn trong khói mờ... hay là Ðoàn người đi miên man trên đường gian nan - Mai đây trên nấm mồ một nụ vàng sẽ hé...

Trong Bầy Chim Bỏ Xứ mỗi câu nhạc là một triển khai của ý tưởng biểu tượng quá hay, quá vĩ đại, nói lên cả một đoạn lịch sử lạ lùng, bi đát và biến động nhất của dân tộc Việt Nam, khi hàng triệu con chim xao xác rời bỏ xứ mẹ ta đi trong cơn bão dữ, rồi sau bao nhiêu năm lưu lạc, khổ đau, đã quay lại rừng xưa để xây đắp quê hương bằng lời ca ngợi tình yêu... Phạm Duy còn làm hơn cả sự ghi chép đoạn sử bi tráng đó, ông đã đưa ra một đáp số siêu linh (mà chính ông đã tìm được sau một lần tái sinh?) đến mỗi lòng người Việt, đã đem vào nhạc ý Ðạo thâm sâu nhất, đã giải đáp cho uẩn khúc của lịch sử : chỉ có lòng tin vào lịch sử và tình yêu dân tộc mới có thể giúp con người nhỏ nhoi vượt qua được từng cơn sóng gió.

Tuyệt vời thứ hai là dòng nhạc mạnh mẽ tràn đầy sinh lực, cấu trúc âm thanh vững chắc, về khía cạnh nhạc thuật, đây là một những tác phẩm cứng cáp nhất của Phạm Duy. Sáng tác âm nhạc là một tiến trình rất khó hiểu, dòng nhạc đến với người nghệ sĩ như một thứ huyền lực, không phải chỉ do trí tuệ, hoặc do suy tư, do kinh nghiệm, do tình cảm đơn thuần mà ra. Có thể là kết tụ của tất những thứ đó và có thể chỉ là do siêu nhiên đưa đến. Vì thế những thiên tài âm nhạc thường rất trẻ tuổi, hoặc rất cô độc, tuổi đời càng nhỏ càng ít bị ảnh hưởng bên ngoài, dòng nhạc như từ trong không gian trong suốt rớt xuống, mới càng thanh thoát, huyền hoặc. Ít nhạc sĩ nào có thể sáng tác thành công lúc tuổi về chiều, vì lúc đó ý nhạc đã khô cằn theo cùng qúa nhiều va chạm với thực tại. Trường hợp của Bầy Chim Bỏ Xứ, Phạm Duy cho thấy khả năng kéo dài đời sống sáng tác. Nhạc ông mạnh mẽ vững chắc hơn bao giờ hết. Tuy đang thu nhặt hết mọi hương hoa đất nước, tuy không tài hoa lộng lẫy như trong Mẹ Việt Nam, lúc tâm ý đã chín mùi nhưng Bầy Chim Bỏ Xứ lại là một khía cạnh khác, mạnh mẽ, cao vút, vượt phá được những giới hạn của âm thanh, đó là lúc đã thấu đáo được ít nhiều tinh hoa của trời đất. Phạm Duy, lần đầu tiên, người thứ nhất, đã đưa nhạc Việt vào loại nhạc opera với những ân thanh táo bạo nhất. Nhưng điểm độc đáo nhất trong nhạc Phạm Duy là ngược lại, nếu ta muốn hát tác phẩm ''opera'' Bầy Chim Bỏ Xứ theo kiểu ngũ âm thì nghe vẫn... hay như thường.

Ðoản khúc Bầy Chim Huyền Sử trong Bầy Chim Bỏ Xứ. có thể nói là đoạn nhạc hùng nhất từ trước đến nay, không những trong âm nhạc Việt Nam mà còn cả trong vườn nhạc thế giới. Vì chưa có nhạc sĩ nào có thể gói trọn được hình ảnh huyền sử, lịch sử, dòng sống dân tộc và sự thiêng liêng của tình yêu tổ quốc, chỉ vỏn vẹn đôi mười câu ca tiếng nhạc :

Hỡi những cánh chim huyền sử xa vời
Những cánh chim là NGƯỜI cho THIÊN và ÐỊA chung vui
Lặng nghe đây con chim Hồng, đây con chim Lạc !
Hỡi những cánh chim của Tiên với Rồng
Những cánh chim ẩn ngữ Ðông Sơn, hoàn mỹ âm dương...

Nhiều người quá say mê với sự hùng tráng và lộng lẫy của đoạn nhạc này, cho rằng Bầy Chim Bỏ Xứ nên được kết thúc bằng Bầy Chim Huyền Sử để đưa trọn cả dư âm chất ngất dấy động lòng người. Nhưng thực ra những ý đạo, tình người mà Phạm Duy thu nhặt trong suốt cả cuộc đời lang thang với dân tộc và âm nhạc của ông, ông đã ghi lại bằng những câu kết bao dung và thanh thoát sau cùng :
Nơi vườn thơm, nắng rọi
Kết bầy, chim ủ ấp quê hương...
. . . . . . . . . . .
Ðể thấy giang sơn là không riêng rẽ
Của lũ chim nào, là chốn vui chung...

Và tâm sự trọn vẹn của cuộc đời Phạm Duy, đại nhạc sĩ, hay chỉ là người ''ca nhân'' lãng tử, đã được gói trọn bồi hồi trong mấy câu :
Chim Quyên về đậu ở Thôn Ðoài
Trong phận mình ở cõi tử sinh
Buồn với vui bằng tâm hồn chân chính
Bầu trời này hay thế giới mông mênh
Thì cũng chỉ ca một bản Xuân Tình
Ở chốn trần gian hoặc ở vô hình...

Hình ảnh đẹp huyền hoặc những cánh chim chiều lớp lớp vỗ cánh trên sông mờ bay, chập chờn, trùng trùng, điệp điệp... chính là tấm lòng xao xuyến bao la không bờ bến của người nghệ sĩ lúc tuổi xế chiều :
Vỗ cánh chim chiều vang lớp sóng
Như lòng của một kiếp ca nhân...

Người ta gọi Phạm Duy là thiên tài, hay chỉ là nhạc sĩ lang bạt, người ta còn tranh luận về tài năng và âm nhạc của ông, nhưng không ai có thể phủ nhận được tấm lòng của ông đối với âm nhạc, đất nước, dân tộc và con người. Và trong tâm hồn của Phạm Duy, dù thăng trầm biến đổi, dù trên đỉnh vinh quang hay bị chìm vào quên lãng, có lẽ lúc nào ông cũng chỉ cảm thấy mình là một '' kiếp ca nhân '' lang thang ca hát diù dặt buồn vui cho đời.

Suốt đời Phạm Duy, chắc ông chỉ mong có một điều, là được ca hát cho tình yêu, từ kiếp này sang kiếp khác, như trong câu ca cuối cùng của tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ :

'' Ta còn nhiều phen hát tình yêu ! ''

Nguyên Thi


Trở Về Tổ Khúc

Trở Về Phạm Duy Tổng Quát