Ðào Mộng Nam Bầy Chim Bỏ Xứ là bầy chim Thiên Sứ Lạc Hồng, bầy chim có một không hai của lịch sử loài người. Vì ngay như bầy chim bỏ xứ trong Thánh ca Cựu Uớc của vua Ða-Vít, vua Sa-Lô-Môn hay đấng vua nào đó, ta thấy âm nhạc tắt hơi, chỉ còn lời than, tiếng khóc não nề :
Bầy Chim Bỏ Xứ
Quốc Hồn Sử Ca - Quốc Túy Thi Ca
Trên bờ sông Babylon Ngược lại vua Phạm Duy của chúng ta ngay từ 1962 đã tiên tri bầy chim Lạc Hồng bỏ xứ, vậy mà vẫn hùng hồn cất cao giọng hát, vang vang nhạc trời :
Chúng tôi ngồi đó
Chúng tôi khóc mà tưởng niệm Sion
Trên rặng liễu đó đây
Chúng tôi treo lên đàn cầm
Ở đó họ réo gọi chúng tôi
Bọn cướp bóc đòi lời ca vãn
Lũ đô hộ muốn một khúc vui
'' Hát ta nghe ca vãn Sion đi nào ''
Mà làm sao chúng tôi hát được ca vãn
Yavê nơi đất khách quê người.Việt Nam chúng tôi Sở dĩ vậy là vì ta có Ðạo Việt là đạo đưa con người lớn cao bằng trời đất khác hẳn Do Thái giáo chỉ có Thượng Ðế là to, còn con người vĩnh viễn nhỏ nhen hèn mọn, nên khi chúa Giê Su tự xưng mình là đấng con trời thì lập tức bị họ lôi lên đồi Sọ đóng đinh.
Vui sống trên đời
Ðàn gảy về trời
Gồng chạy ra khơi...Ðó là điểm mấu chốt cắt nghĩa được tại sao người Do Thái từ lâu đã hiện diện khắp năm châu, nhưng tới bây giờ đạo họ vẫn là đạo riêng Do Thái. Trái lại Kitô giáo và Cơ đốc giáo đã từ lâu là tôn giáo hoàn cầu. Tuy về mặt lý thuyết thì như thế, nhưng thực tế ta thấy phía tín đồ lại khác, vì qua vụ ban nhạc The Beatles, ban nhạc tâm linh của thế kỷ, có nhạc sĩ chỉ mới khoe vóc dáng mình giống Chúa Giê Su thì lập tức bị giáo dân thế giới khai trừ.
Còn với Việt Nam, giả sử Phạm Duy phút ngông nào đó tuyên bố sắc diện mình giống sắc diện Tổ Hùng, chắc hẳn toàn dân ngoài nước, toàn dân trong nước chỉ phì cười và vẫn tiếp tục đồng ca bản Việt Nam Việt Nam Hành Khúc.
Tóm lại, đạo Việt là đạo tự nhiên, đạo tự nhiên là đạo tiền tôn giáo, là nguồn sống uyên nguyên đất trời tuôn chảy đời đời bất diệt, từ con người tới muôn loài cùng vũ trụ, không đâu là không thấm nhập và khi thị hiện thì hiện thành hình Rồng Tiên hoặc hình Bầy Thiên Sứ Lạc Hồng lồng lộng giữa trời chứ không hiện thành tượng gỗ hay tượng đá.
Bầy Chim Bỏ Xứ là bầy chim Thiên Sứ, bầy chim hoàn thành sứ mệnh linh thiêng của trời, bởi lẽ cặp chim đầu đàn của bầy chim bỏ xứ là chim Hồng Lạc, xuất hiện từ thuở bình minh của lịch sử giống nòi, lịch sử loài người khoảng sáu ngàn năm về trước :
Kể từ trời mở Viêm Bang Viêm là hơi nóng, là hào quang. Bang là nước trời. Hồng là loài chim to. Bàng là dòng dõi lớn. Vậy Viêm Bang Hồng Bàng là giống chim vĩ đại của nước hào quang nên cánh nó mới lớn rộng bao trùm khắp cả muôn loài vũ trụ, đã đưa đường dẫn lối, lối theo cha xuống biển khai đất, đường theo mẹ lên non mở trời :
Sơ đầu có họ Hồng Bàng nối raNhững cánh chim dẫn đường đưa lối Ðã không chỉ riêng mảnh đất hình chữ S mà toàn thể địa cầu thành nước nhà trời như ý nguyện trong đôi câu đối của Hội Văn Hóa Lạc Hồng, dự trù sẽ khắc ghi tại đền thờ Quốc Tổ tại Hoa Kỳ :
Những cánh chim sinh tử không rời
Vỗ cánh theo Cha về miền suôi
Vỗ cánh bay theo Mẹ lên núi...Ðại khai vũ trụ Hồng Bàng tộc Nếu câu trên là lời xướng thì Bầy Chim Huyền Sử dưới đây là lời họa :
Thái hợp càn khôn Bách Việt dân
. . . . . . .
Nòi Hồng bàng mở to vũ trụ
Giống Bách Việt hợp lớn đất trờiHỡi những cánh chim huyền sử xa vời
Những cánh chim là NGƯỜI cho THIÊN và ÐỊA chung vui...Hẳn đã minh chứng đạo quả viên thành của chúng ta sau mười lăm năm ôn luyện pháp môn Hồng Lạc, một pháp môn coi xác thân ngục tù xiềng xích nhẹ tựa lông hồng, coi hồn sống tự do bay lượn nặng tựa Thái Sơn của nòi Bách Việt tức trăm vượt, vượt từ lòng vật thể vượt lên, vượt từ bụng hư không vượt xuống, sao cho hai cõi giáp mốt vòng tròn, để con số 55 Hà đồ cô và con số 45 Lạc thư hữu trong kinh Dịch gộp lại chẵn tròn một trăm trái trứng nơi bọc Âu Cơ, nở thành bầy chim nhân loại thái hoà.
Bởi sẵn mang hồn sống chung to lớn ấy, chúng ta mới dám cả gan đem sinh mạng nhỏ nhoi hiện kiếp, không chỉ riêng mà toàn thể gia đình đối đầu với sóng gió đại dương để mong đẩy sập bức tường ô nhục biển đông :
Thân hữu ký tên chung sau buổi diễn
(Danh sách này có khác gì một tổ chim?)
Bầy chim được lúc tung hoành Cho dù phải trả cái giá xương đàn bà, trẻ con cùng người già chìm dưới đáy biển sâu mà giờ đây gom lại hẳn còn cao dày hơn tất cả những bức tường ô nhục đông tây của thế kỷ này cộng lại.
Tường ô nhục đã tan tành...Xác thân vùi dập nhưng hồn hẳn đã siêu thăng kết thành bầy cùng muôn loài khác thành Bầy Chim Thiên Sứ Lạc Hồng, mang thông điệp tự do đi ban trải khắp vùng nhân gian.
Xuân tới khi màn tre nhốt chim lành Bầy Chim Bỏ Xứ là bản trường thiên thi nhạc Quốc Hồn Sử Ca, tầm vóc lớn lao của nó lớn hơn bài Quốc Ca, bởi vì quốc ca chỉ là hồn nước của một thời kỳ còn Quốc Hồn Sử Ca Bầy Chim Bỏ Xứ là hồn nước của sáu bảy ngàn đời lịch sử :
Màn sắt ô danh, đều đã rung rinh
Tự Do là tiếng loài chim...
Ðiểu Quần Biệt Xứ
Hoài Hương Tổ Khúc Hưng Thần Trí
Vọng Quốc Trường Ca Phát Thành Tâm
Ðông Hải Vạn Hồng Khai Ðịa Thủy
Hoành Sơn Bách Lạc Xuất Thiên Vân
(Ðào Mộng Nam cẩn đề)Lặng nghe đây con chim Hùng, đây con chim Việt
Hỡi những cánh chim huyền sử mơ mòng
Những cánh chim lịch sử oai phong, bảo vệ non sông...... của một giống dân có truyền thốn tôn thờ lịch sử, coi lịch sử như tôn giáo chính của mình nên sinh ra đời chỉ với quyết tâm làm nên lịch sử, lịch sử huy hoàng, lịch sử uy linh. Nếu như hiện kiếp thời cơ chưa tới, lịch sử chưa thành thì khi thác còn phát nguyện tát sinh xả thân thêm kiếp khác : '' tái sinh thành lần nữa Ðỗ Quyên '' mà hình ảnh Ðỗ Quyên trong Quốc Hồn Sử Ca Bầy Chim Bỏ Xứ là một minh chứng thực hùng hồn.
Nhân loại gần đây mới biết tới quốc hồn, mới đặt chuyện Quốc Ca, để chỉ dùng trong các dịp lễ lạc và thường phải có ban nhạc đi kèm để điều hơi khiển nhịp. Còn dân Việt sinh ra vốn có Quốc Sử Ca, không những truyền miệng đã lâu đời mà còn chép cả ra giấy, tác phẩm nào tác phẩm nấy dài cả trăm, ngàn vạn câu. Nếu đem trái đất để làm tác phẩm Quốc Thổ Tâm Kinh hẳn thừa phủ kín quê hương, vì đã bao ngàn đời là kinh cầu vọng, qua điệu hát ru chẳng cần nhạc cụ được toàn dân tụng niệm bất kể ngày đêm, để mong con em mình lớn lên thành người con ngoan của gia đình, con yêu của tổ quốc, sẵn sàng hi sinh cho nhà, xả thân cho nước mà Phạm Duy đã tiếp nối truyền thống cao đẹp ấy bằng một tác phẩm độc đáo : chỉ với tinh thần yêu nước thương nòi mà cánh chim phủ kín địa cầu, trùm cả không gian, bay suốt bẩy nghìn năm quá khứ chưa hề thấy mỏi, sức mạnh dư thừa này còn muốn bay suốt cả tương lai lịch sử Việt Nam.
Nhân loại tới giờ này cũng vẫn còn coi các nhạc khí là các vật vô tri, xài xong bỏ hộp, dậy nắp cất đi. Ngược lại dân ta bao giờ cũng treo đàn lên bức vách đẹp nhất trong nhà, để không chỉ dành riêng cho kẻ biết xử dụng nắm nhìn mà cho tất cả mọi người cùng chiêm ngưỡng. Cây đàn độc huyền cầm được phong danh hiệu là đàn thần, được đề thơ xưng tụng công đức lớn lao sánh cùng tổ mẫu Âu Cơ, mẹ vũ trụ, mẹ thiên nhiên đồng thời cũng là mẹ trần hoàn, có quan hệ thịt xương máu mủ với mọi con dân đất Việt :
Mình đàn dáng mẹ đất gầy Trống đồng được tôn vinh là trống thánh thỡ nơi các chốn trang nghiêm, từ thuở mười tám triều đại vua Hùng. Chính đệ nhất Tổ Hùng Vương khi dựng nước Văn Lang để mở nước và giữ nước lâu dài (2622 năm), Ngài không sai đúc mũi tên đồng như An Dương Vương ngắn ngủi (50 năm) mà truyền đúc 1600 cỗ trống đồng là trái tim đồng tâm nhất trí của toàn dân, mỗi nhịp đánh lên là muôn lòng như một, kẻ thù xâm lược dù hung tàn, bạo ngược tới đâu cũng tan thành xác pháo. Như tiếng trống đồng Mê Linh đã làm cho Tô Ðịnh không còn manh giáp, kinh hồn chạy trốn về Tầu, khiến Mã Viện phải thảng thốt tuyên bố : '' Ðồng trụ triết, Giao Chỉ diệt '' (Muốn tiêu diệt dân Giao Chỉ, phải tiêu dệt truyền thống trống đồng). Mỗi lần tiếng trống vang dội, không những đất trời rung chuyển mà còn thiên thu rền vọng thanh âm... Bằng chứng hiển nhiên là trong Quốc Hồn Sử Ca Bầy Chim Bỏ Xứ của Phạm Duy mà ta đang nghe :
Cho trời ôm ấp cần tay hao mòn
Bầu tròn đùm bọc trăm con
Dây tơ chín khúc héo hon ruột mềm...Từ nơi huyền bí ... là những tiếng '' ẩn ngữ Ðông Sơn '' điệu ngữ trống đồng.
. . . . . . . . .
Như gió thiên niên
Tôi đã nghe vang
Cơn bão không gian...Nhân loại đã từ lâu quan niệm cõi nhân gian ô trược không có '' nhạc thần '', muốn nghe phải vào nhà thờ, chùa chiền hay thánh thất. Nhưng dù những nơi đó có '' thánh ca '', chúng ta vẫn thiếu '' đàn thần '', bằng chứng là trong Thánh Kinh Cựu Ước của Cổ Do Thái Giáo :
Trên rặng liễu đó đây ... vì nơi đó đền Thánh bị giặc ngoại xâm phá hủy sạch rồi. Và đàn này quả thực vô tri trước cảnh tượng đớn đau mức đó, đàn vẫn vô tình như cây liễu, chẳng chút cảm thông cùng kẻ lưu đầy.
Chúng tôi treo lên đàn cầm
Rồi chúng tôi ngồi xuống khóc
Mà tưởng niệm Sion...Ngược lại, với đàn độc huyền của truyền thống đạo lịch sử của dân ta trong Quốc Hồn Sử Ca Bầy Chim Bỏ Xứ, dân Việt lưu đầy gặp cảnh ấy thì thần đàn lập tức tự động '' đứt tung dây '' và '' nghe đất lung lay. Dân ta sở dĩ có được truyền thống nhạc thánh, đàn thần linh diệu nhu vậy, chính là nhờ ở nhịp rung ngân của nguồn thi ca quốc hồn sử ca đã truyền đời thấm vô làn hơi hô hấp, nhập vào luồng khí luân lưu trong cơ thể mỗi con dân để kết hợp hồn tổ tiên xưa cùng hồn con cháu đời nay thành khối đại hồn chung lo làm lịch sử. Nên sự xuất hiện của Quốc Hồn Sử Ca Bầy Chim Bỏ Xứ hôm nay, thêm một lần nữa, chứng tỏ truyền thống đó vẫn trường tồn và vững mạnh.
Ðể có đủ chiều cao cho đôi cánh thi nhạc Quốc Hồn Sử Ca Bầy Chim Bỏ Xứ vùng vẫy, Phạm Duy đã mượn cặp thánh điểu Lạc Hồng, cánh phủ trùm vẹn non sông Việt từ khởi thủy tới hiện tại và còn mãi trong tương lai. Ðể có chiều ngang cho đủ rộng cho đôi cánh nặng chĩu ơn nhà, nợ nước vươn dài, tác giả mượn tích thần điểu Ðỗ Quyên, nhưng Ðỗ Quyên này không rõ là Ðỗ Quyên đời thứ mấy, vì đếm không xuể, chỉ biết là nhiều như rừng anh hùng liệt nữ Việt Nam đã vị quốc vong thân. Và bây giờ thần điểu Ðỗ Vũ Phạm Duy lại thêm một lần nữa chết đi sống lại từ hồn Bà Huyện Thanh Quan, chim nhớ nước thương nhà đứt ruột.
Bà Huyện Thanh Quan, cả một cuộc đời chỉ có ba bài thơ truyền lại cho hậu thế làm sự nghiệp văn chương. Ba bài thơ mà là cả một cuộc sống tâm linh cao vời và sâu thẳm. Lịch sử văn học Việt Nam chỉ mới xét phần nghệ thuật của hai bài Thăng Long Thành Hoài Cổ và Chiều Hôm Nhớ Nhà đã vinh danh bà là '' nữ thánh luật thi '' cùng '' nhập hồn Ðường thi '', nghĩa là tài thơ luật thất ngôn bát cú của bà đủ sức so sánh với bất cứ thi sĩ nào của thời Ðường là thời đại hoàng kim củu thi ca Trung Quốc.
Nhưng theo thiển ý chúng tôi ngoài phần nghệ thuật ra, xét phần nội dung thì...
* Bài thứ nhất : dạ khổ đau khi chứng cảnh cố đô hoang tàn của nước cũ huy hoàng.
* Bài thứ hai : lòng sầu muộn lúc sống tha hương thưởng nhớ nhà xưa
* Bài thứ ba : nỗi đứt ruột nước mất nhà tan...
Với nội dung như vậy, thơ bà hẳn là thơ thuộc dòng huyết lệ (loại thơ viết bằng máu và nước mắt của các thế hệ anh hùng liệt nữ Việt Nam, đã quên mình khi đất nước nguy nan và dân tộc lầm than) là mẹ ruột đẻ ra Quốc Hồn Sử Ca Bầy Chim Bỏ Xứ.Chúng tôi cũng không đồng ý với quan niệm Thanh Quan chỉ '' nhập Ðường '' mà trái lại còn '' vượt Ðường '' '' vượt Tống ''. Vì trong Ðường Thi và Tống họa, về thể loại '' tức cảnh sinh tình '', để đối lại với vũ trụ bao la, vạn vật bao giờ cũng ít ỏi, con người bao giờ cũng cá nhân. Trái lại bà Huyện Thanh Quan là cả một giang sơn hoa gấm, là cả một dân tộc yêu nước thương nòi. Còn đối với truyền thống thi nhạc quốc hồn thi sử ca thiết tưởng chẳng cần tới ba bài, mà chỉ hai câu thôi :
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc ... đã được Phạm Duy mượn làm cốt lõi cho Bầy Chim Bỏ Xứ của mình hẳn là cũng đủ để chúng ta bây giờ thêm một lần nữa vinh danh bà là '' đấng Thánh anh thư nhập hồn quốc sử ''.
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia...Xuất xứ tiếng khóc của thần điểu Ðỗ Quyên ban đầu chỉ là tiếng khóc nước đơn thuần. Tới lượt Ðỗ Quyên Thanh Quan khóc nước thì thấy có thêm tiếng khóc nhà tan. Nhưng tới lần Ðỗ Vũ Phạm Duy khóc nước, khóc nhà trong quốc hồn sử ca thì thực quả là kinh khủng ! Máu và nước mắt dân ta không những làm lụt lội quê hương mà còn tràn bốn biển và ngập cả năm châu. Nhưng nhiều như vậy đã đủ để rửa sạch những vết nhơ của tội ác chiến tranh, gây ra bởi những trào lưu tư tưởng quá khích của giai đoạn mâu thuẫn toàn cầu, để nhân loại được sống hòa đồng trong thế hoà bình chưa nhỉ ?
Nhưng hồn Thanh Quan là mẹ đẻ thì hồn Nguyễn Du phải là cha sinh của quốc hồn sử ca, vì cánh hạc lên tiên -- lên tiên thì tìm cánh hạc -- trong Bầy Chim Bỏ Xứ chính là cánh hạc lên mây -- mây bay hạc lánh biết là tìm đâu -- trong Ðạm Trường Tân Thanh. Và công cha sinh to như Thái Sơn này không phải chỉ ghi tạc ở đây mà trong Ngàn Lời Ca, Phạm Duy còn kính cẩn đặt lên đầu sách, nơi lời dẫn nhập : '' Ngay cả truyện Kiều cũng đi vào lãnh vực âm nhạc với lối ngâm gọi là kể kiều ''. Cũng nhập vào những trường hợp quốc hồn sử ca mà Bầy Chim Bỏ Xứ hiển nhiên là một.
Vậy dòng sông huyết lệ dài nhất lịch sử văn chương Ðông Tây kim cổ tuôn chảy từ '' ngọn tiểu khê '' tới tận cửa biển '' Tiền Ðường '' của Nguyễn Du đã được Phạm Duy khơi lại mạch nguồn cho tràn lan tiếp từ cửa Ðông Hải vượt Thái Bình Dương ôm trọn vòng trái đất. Nguyễn Du qua nhân vật Thuý Kiều mười lăm năm luân lạc viết quốc hồn sử ca Ðoạn Trường Tân Thanh :
Một niềm vì nước vì dân Vì trần gian thiếu mực nên tác giả đã '' rút dao tay áo '' đâm ngực mình lấy máu để thay mà vẫn thiếu, cuối cùng phải lao đầu xuống sông Tiền Ðường để mong nước sông dài là mực và tâm thân mình là cây đại thụ.
Âm công cắt một đồng cân đã già...
Trên vì nước, dưới vì nhà
Một là đắc hiếu hai là đắc trung.Còn Phạm Duy qua Ðỗ Quyên mười lăm năm lưu đầy để có thêm mực đã '' cấu cổ '' lấy máu viết quốc hồn sử ca qua Bầy Chim Bỏ Xứ mà vẫn không đủ, cuối cùng đã lấy thân mình làm bút và biển tuyết bao la làm mực.
Lúc này nếu ai hỏi tôi thích nhất chim nào trong Bầy Chim Bỏ Xứ m tôi trả lời '' Ðỗ Quyên ''. Nhưng biết đâu nay mai tôi lại trả lời '' chim hạc ''. Cũng như không phải bây giờ, mà đã từ hai năm trước (1988) sau khi hoàn tất Bài Hát Nghìn Thu (HƯ VÔ), Phạm Duy đã thích '' chim hạc '' hơn ''chim quyên '' rồi. Bằng chứng là trong Bầy Chim Bỏ Xứ , chúng ta không còn nghe tiếng hát nhạc trần gian của Phạm Duy, mà chỉ nghe tiếng Phạm Duy nói giọng nói của trời cao, của sấm xét Trạng Trình -- Vũ đi thì Vũ lại về, giặc đến Bồ Ðề thì giặc lại tan -- là người đã tạc quốc hồn sử ca trên vách Hoành Sơn -- Hoàng Sơn nhất đái vạn đại dung thân -- để tạo cho giải non sông cẩm tú dào thêm phân nửa nữa.
Quốc Hồn Sử Ca Bầy Chim Bỏ Xứ không những đã tiếp nối truyền thống sấm giáng mở cõi giang sơn đất mới phương Nam, mà còn đạt được tinh thần Thơ Trời, Hịch Trời của Lý Thường Kiệt -- câu Nam Quốc sơn hà Nam đế cư và câu Chỉ đòi đất tổ, không làm khổ lương dân -- để giành lại đất cũ trên mạn Bắc.
Lặng nghe đây con chim Hùng, đây con chim Việt Sau hết, chẳng chỉ hồn mà ngay cả xác, nhìn mái đầu Phạm Duy bây giờ, tưởng tượng lại mái đầu Nguyễn Du khi mới ba chục tuổi mà đã rừng sương biển móc, cùng mái đầu Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc ngoại cửu tuần hẳn là chúng ta sẽ thấy, không chỉ một mà cả ba mái tóc đều thành thứ mây giống như mây trong Bích Vân Thi Tập, trắng nõn ngàn đời bay bay...
Những cánh chim oai phong mở cõi giang sơn...
Bầy Chim Bỏ Xứ là trường thiên thơ trước khi là trường thiên nhạc, vì trong lời nói đầu tác giả tuyên bố : '' Ðể có thể hoàn thành tổ khúc này, tôi đã đọc lại tất cả ca dao ''. Như vậy là Phạm Duy đã xác nhận rằng mình thai ngén lời trước nhạc, đã làm thơ chuyên chở tình yêu nước, thương nòi trước khi dùng nốt nhạc Tây phương ký âm điệu hát, một điệu hát trường thiên dân tộc.
Vịnh Bầy Chim Bỏ Xứ
Câu Hát Lìa Nhà Vò Tấc Dạ
Bài Ca Bỏ Xứ Xé Buồng Gan
Tiếng Quyên Quặn Sóng Thương Trăm Họ
Giọng Hạc Nhầu Mây Xót Vạn Dân
(Ðào Mộng Nam cẩn đề)
Căn cứ vào lời ca Bầy Chim Bỏ Xứ thì nhịp của nó là nhịp thơ truyền thống Á Ðông chẵn trước lẻ sau, với ngũ ngôn :
Hát cho / cho cuộc sống Và thất ngôn :
Hát cho / cho cuộc tình
Dẫu cho / chim thèm khóc
Dẫu cho / chim thèm cười...Cất tiếng vang lừng / trong gió mới Cũng nhịp chẵn của thơ truyền thống Việt Nam, đồng dao bốn chữ :
Trong tình nồng nhiệt / lũ chim ơi...
Giữ nước cao giọng / con quốc quốc
Canh nhà rền rĩ / tiếng gia giaXin cánh / chim ngoan Và ca dao trên sáu dưới tám :
Xây đắp / quê hương
Câu hát / hân hoan
Cho mãi / xuân sangNhạn xanh / chắp cánh / bay chuyền Cặp song thất ''lẻ trước, chẵn sau'' của thể lục bát :
Én xanh / ríu rít / đưa tin / tháng ngày
Tuyết rơi / lả tả / là tà
Như chim / lạc tổ / như ma / lạc mồNhững cánh chim / dẫn đường đưa lối Và Phạm Duy sử dụng cước vận (vần chân) như thơ xưa bẩy chữ :
Những cánh chim / sinh tử không rời
Chim xa bầy / thương cây nhớ cội
Người xa người / tội lắm chim ơiÐỗ Vũ không ngừng / kêu mất nước Và thơ tám chữ :
Khuyên đời bằng một / khúc dao ca
Nhớ nước đau lòng / con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng / cái gia giaTình nghĩa / là lứa / chim uyên Luật thơ xưa và thơ mới chỉ đòi hỏi gieo vần gián cách ở vế bằng (ca, gia, uyên, non) nhưng tác giả lại gieo vần ở cả vế trắc (nước, quốc, hạc, tước) trong hai đoạn vừa kể trên khiến âm vận phong phú gấp bội. Thêm điểm son nữa là luật thơ tám chữ không đòi hỏi về nhịp, song tác giả lại ngắt nhịp theo đúng luật thơ lục bát, nghĩa là mỗi nhịp gồm hai tiếng :
Lên tiên / thì tìm / cánh hạc
Tấu nhạc / là phượng / xuống non
Nắng lên / đầu non / véo von / kim tướcTha thướt / tha thướt / là dáng / thiên nga Ngoài tài sử dụng vần gián cách kép (trắc vần với trắc, bằng vần với bằng) tác gia> lại còn gieo liên bình vận (vần bằng liền) :
Còn nuôi / giấc mơ / là chim / gõ mõCon chích choè vượt biển về đâu ? Cách gieo vần phong phú này, trong Kinh Thi, loáng thoáng có một ít bài :
Rồi chim hót, chim hót giọng sầu
Chim chúc đầu vào biển sóng nâu
Con chích choè chìm vào đêm sâuÐào chi yêu yêu Cách gieo vần này là sở trường lớn của Phạm Ðuy, không chỉ với Bầy Chim Bỏ Xứ mà trong Ngàn Lời Ca xưa tác giả cũng đã vận dụng tối đa nên nhiều vô kể, đọc lại mãi mãi sẽ còn thấy âm điệu liên bình vận (vần bằng liền) rền vang như sóng trùng khơi lớp lớp mênh mông.
Chước chước kỳ hoa
Chi tử vu quy
Nghi kỳ thất giaMơn mởn đào hồng
Nở nụ đâm bông
Nàng về nhà chồng
Vẹn nép gia phongPhạm Duy đã tích cực khai quật vốn cũ của Á Ðông và của dân tộc không những về nhịp và vần mà còn ra công nhào trộn các thể thơ mới như :
Bầy chim / buồn bã Ðọc những lời trên, nếu căn cứ vào số chữ mỗi câu, thấy sự dài ngắn khác nhau, ta ngờ là thơ tự do phá cách, nhưng nếu phân tích thì mới thấy là thơ luật hỗn hợp, hai câu ngắn (1-3) là nhịp thơ đồng dao Việt Nam, hai câu dài (2-4) là nhịp thơ năm chữ Trung Hoa. Còn vần là vần gián cách kép trắc với trắc (bã, xứ) bằng với bằng (hương, phương).
Rủ nhau / trốn quê hương
Vì đâu / bỏ xứ
Ðể lê / kiếp tha phương ?Sau hai thể song thất lục bát và ca trù, với sáng kiến này của Phạm Duy, ta thấy sự phối hợp về luật thơ, sự dung hoá giữa văn hóa dân tộc và ngoại nhập hay đúng hơn thấy sự hồi sinh (và phát huy) cái chết cứng sống lại, cái nhỏ bé lớn lao thêm. Vì với thể song thất lục bát, ta đã lấy cặp song thất trong Ðường luật Trung Hoa ghép vào câu lục bát của mình. Nhưng bởi tinh thần trọng hậu cùng niềm tin bất tuyệt vào cõi đời rằng : sau mọi phong ba bão táp của lòng người, của lòng trời đất, đời lại yên bình. Nên ta đã đổi nhịp lẻ gần ở dưới của Trung Hoa lên trên và nhịp chẵn êm của họ xuống dưới :
Hoàng hạc nhất khứ / bất phục phản Và để phù hợp với luật âm ba nói riêng và luật tự nhiên nói chung trong vũ trụ là : mọi vật, mọi sự từ nhỏ nhất tới to nhất, đều có quan hệ mật thiết với nhau chứ không hề rời rẽ. Nên ta đã gieo vận bằng hoặc trắc như trên (bụi, nỗi) để nối liền hai câu thơ, nhiều câu thơ, từ đầu bài tới cuối bài lại với nhau. Ðây là luật bất biến, thể thơ nào ta cũng có, trong khi không thấy trong thơ Tầu và thơ Tây.
Bạch vân thiên tải / không du duThuở trời đất / nổi cơn gió bụi
Khách má hồng / nhiều nỗi truân chuyênPhạm Duy trong Bầy Chim Bỏ Xứ nay và Ngàn Lời Ca xưa, giữ đúng nguyên tắc này. Cách gieo vần lưng bằng (yêu bình vận) của tác giả (sao-niu, kiều-mau, sâu-đâu) ở dưới đây là một chứng minh cụ thể :
Mây vẫn / trôi cao / trời vẫn / xanh xao Ðoạn lời trên, mỗi câu tám chữ, đọc qua ta tưởng là thơ mới nhưng nếu phân tích, ta sẽ thấy là vần bằng liền. Nhịp là nhịp đồng dao và ca dao, mỗi nhịp gồm hai tiếng dính liền, theo truyền thống đơn vị cặp đặc biệt Việt Nam. Nó bắt nguồn từ nhịp hô hấp (hít vô hà ra) tức nhịp thở của muôn loài của vũ trụ, khởi phát từ miệng trẻ hài đồng cất tiếng đầu đời gọi mẹ ma ma gọi bố pa pa, song hành cùng lời niệm Phật nam mô và cầu Chúa amen. Phạm Duy đã sử dụng âm thanh nhịp đôi này nhiều nhất trong toàn bộ sự nghiệp âm nhạc của mình, như vậy là Phạm Duy đã trọn đời gìn giữ vun bồi hơi thở giống nòi ta.
Chim vẫn / nâng niu / giọng hót / yêu kiều
Mây vẫn / trôi mau / trời vẫn / thâm sâu
Ai có / nghe đâu / giọng hót / chim đauChiều rộng của nhạc Phạm Duy theo cảm nghĩ của riêng tôi là những bản thi nhạc giống như nhữNg đọan đồng dao lục bát mở đầu cho mỗI một đoạn trong tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ, không nhạc, không ca, chỉ nói xuông như mưỡu đầu, mưỡu hậu của hát nói nhưng nói mà hát, hát mà nói đúng như người Pháp ngày xưa, khi bắt đầu giao tiếp với Việt Nam mới nghe ta nói, họ đã bảo rằng : anh hát (vous chantez). Thứ nhạc đó là nhạc trời trao, đất tặng, muôn loài vạn vật cùng vũ trụ đều cảm thông, chứ không phải loại nhạc do con người đặt ra chỉ giới hạn trong vòng nhân thế.
Qua phần phân tích và nhận định ở trên, ta thấy Phạm Duy không những đã đọc tất cả ca dao mà chắc chắn còn đọc tất cả những thơ cũ và thơ mới nữa vì trong sách Khảo Về Dân Nhạc tác giả có khẳng định rằng : Dân ca Việt là những bài thơ được các giọng hát địa phương phổ nhạc... Nghiên cứu dân ca Việt phải nghiên cứu cả phần văn học bình dân cùng bác học của nước nhà...
Bởi ý thức nhạc khởi từ thơ, thơ đẻ ra nhạc của truyền thống Việt Nam, truyền thống Á Ðông nên sách Ngàn Lời Ca của tác giả không in nhạc chỉ in lời, cũng giống như Kinh Thi chỉ thấy lời mà không thấy nhạc, nhưng khi san định nó, Ðức Khổng phải tay đàn miệng hát, bởi nó là thứ nhạc ký âm bằng ngôn ngữ.
Tới sách này tác giả trịnh trọng để phần lời suông lên trước phần lời có nhạc ở sau, qua việc làm này chắc chắn Phạm Duy đã nghĩ :
Lời mà đạt thơ truyền thống thì sẽ có ở ngàn điệu nhạc của hàng trăm địa phương, của hàng muôn thời đại phổ vào chứ không riêng gì nhạc mới, nhạc Tây thời này. Vậy tội gì ta lại đóng chặt cửa lồng âm giai thất cung cùng với ngũ cung mà không mở ngỏ để khi ở trong thì nó đậu, ở ngoài thì nó vỗ cánh bay tung theo giai điệu âm ba đơn vị cặp của truyền thống Việt Nam, của cội nguồn vũ trụ.Và chắc chắn Phạm Duy cũng thừa hiểu rằng :
Phong dao trong Kinh Thi khoảng 3500 năm trước và ca dao Việt Nam bao ngàn thuở qua giờ đây vẫn còn nguyên vẹn, nhưng những điệu ca phổ vào nó, phát ra từ nó đã đổi thay biến hóa biết bao lần...Căn cứ vào những điểm trên, ta có thể kết luận rằng : Phạm Duy trước khi là nhạc sĩ đã là thi sĩ, một thi sĩ hơn người khác về tài tạo âm điệu cho thơ, khiến cõi âm ba của trường thiên thi nhạc Bầy Chim Bỏ Xứ là cõi âm ba của biển rộng trời cao ngàn đời bất tuyệt.
Ðào Mộng Nam
Gia Ân Thống Nhạc Thiên Thu Quán = Ơn Nhà Nhạc Khổ Ngàn Năm Thấu
Quốc Nghĩa Hùng Ca Vạn Kỷ Truyền = Nghĩa Nước Ca Hùng Vạn Thuở Lưu
(Ðào Mộng Nam cẩn đề)
Trở Về Tổ Khúc
Trở Về Phạm Duy Tổng Quát