Tại London

Nhân có buổi Minh Họa Kiều tại Luân Đôn
Đi thăm Viện Bảo Tàng Shakespeare

Tôi rất sung sướng được đăng bài viết về Minh Họa Truyện Kiều của Đặng Mĩ Lộc (Đoàn Xuân Kiên) ở London :

Phạm Duy Minh Họa Truyện Kiều

Minh Hoạ Kiều là một tác phẩm mới nhất mà PD đang thực hiện. Hiện nay, Phần Một đã ra mắt người yêu nhạc. Dường như vẫn là thông lệ từ mấy chục năm qua, PD vẫn dành cho thân hữu văn nghệ những vinh dự là những người thẩm âm đầu tiên, rồi từ đó mà tạo nên những buổi toạ đàm văn nghệ hào hứng.

Mở đầu, PD xác định rằng ông không phổ nhạc truyện Kiều, mà chỉ dùng nhạc ''minh hoạ'' truyện Kiều mà thôi. Theo lời giới thiệu của PD thì công trình Minh Hoạ Kiều sẽ gồm có bốn phần tương ứng với bốn giai đoạn của cuộc đời Thúy Kiều:
(a) Kiều cảm nhận số phận của mình qua cuộc gặp gỡ Đạm Tiên;
(b) Kiều biết hương vị tình yêu qua mối tình đẹp với Kim Trọng;
(c) Kiều long đong thân thế qua cuộc đoạn trường 15 năm;
(d) Kiều gặp người tương tri Từ Hải.

Nhưng bố cục tác phẩm Minh Hoạ Kiều còn có thêm một phần Giáo Đầu (Prologue) để giới thiệu bối cảnh và nhân vật; và một phần Vĩ Thanh (Epilogue) để kết thúc tác phẩm ở đoạn Kiều trầm mình xuống sông Tiền Đường.

Buổi ra mắt vừa qua chỉ mới giới thiệu được phần Giáo ĐầuPhần Một : phần Kiều gặp số phận.

Phần Giáo Đầu mở ra với tiếng chiêng trống, tiếng kèn sáo uy nghi vững chãi, rồi tiếng trúc tơ lao xao và giai điệu tươi vui, và giọng xướng: ''Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng...''. „n tượng mạnh của minh hoạ đã in đậm ngay từ những biến điệu đầu tiên, khi tiếng nhạc trổi lên; khung cảnh cung đình tráng lệ của một triều vua Gia Tĩnh xa xưa ở bên Tàu được khắc hoạ bằng âm nhạc.

Vào Phần Một, nhạc dẫn vào khung cảnh một trời Xuân đẹp: thiên nhiên tạo vật tràn trề niềm vui đằm thắm trải ra qua câu nhạc dài, giai điệu lả lướt lãng mạn. Rồi cảnh dập dìu tài tử đi du xuân nhân tiết Thanh Minh, cảnh Thúy Kiều gặp Đạm Tiên, rồi gặp cả Kim Trọng lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.

Bố cục âm nhạc của phần này được phát triển làm ba đoạn : đoạn đầu mở ra với một nhạc đề khoan thai trong sáng, rồi cuốn nhanh như một tiếng cười giòn giã. Nhạc tươi sáng, như biểu hiệu một trời xuân đẹp đẽ của đời Kiều. Nhạc đề này rồi sẽ trở lại lần nữa ở đoạn cuối, trước khi kết thúc Phần Một.

Một nhạc đề thứ nhì thể hiện niềm hoang mang của Kiều, gồm nhiều chuyển điệu ở âm trình thứ, giai điệu ma quái, có khi nghẹn ngào. Sự phức tạp của tâm trạng và âm nhạc ở đây là một minh hoạ cho một Thúy Kiều đa cảm đang trải qua những xúc động đầu đời về thân phận của mình. Hai bài thơ Kiều làm trên đường du Thanh Minh là hai giai điệu tươi sáng nổi bật lên trong toàn khối nhạc đề thứ nhì rất nhiều khắc khoải buồn bực. Phong vị của âm nhạc nổi lên hai nhạc đề tương phản nhau, như chừng có ý khắc hoạ những nét nhạc thanh tân của buổi bình minh một đời người chăng, trong đó đã có đủ: một trời xuân rạng rỡ nhưng thoáng gợn mây xám, một sự đan xen giưã giai điệu tươi sáng và những u ẩn của thời mới lớn.

Nhạc trở lại nhạc đề ban đầu, lãng mạn, lưu loát và tươi sáng, khi Kim Trọng xuất hiện ở cuối buổi du Thanh minh của chị em Thúy Kiều. Công trình dài hơi này hẳn là sẽ không đơn giản chút nào. Tác giả khiêm tốn bảo rằng nó chỉ là bốn bức minh hoạ truyện Kiều. Qua Phần Một, người nghe đã phần nào hình dung được tính cách của sự minh hoạ này.

Trước hết, minh hoạ ở đây không mang ý nghiã là sự lặp lại, sự sao chép lại một tác phẩm văn học. Tác phẩm gọi là minh hoạ thật ra đã có tham vọng khắc hoạ lại những tâm trạng, những tính cách của Kiều trong một khung cảnh và thời gian nhất định. Đó là một thế mạnh của âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống. — Phần Một này nổi lên hai điều: trời xuân rạng rỡ và những gợn mây xám báo hiệu giông bão. Cả cái huy hoàng của triều đình Gia Tĩnh rồi ra sẽ chỉ là thứ huy hoàng không thật. Nhưng đó là chuyện về sau. — trong phần Giáo Đầu và trong Phần Một này, mọi thứ đều hãy còn là tiềm ẩn. Nghe kĩ, có thể nhận ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. Trong tiếng cười giòn của phần I đã nghe ra tiếng thở dài đâu đó.

Một điểm nưã cũng dễ nhận thấy trong suốt hành âm của Phần Một Minh Hoạ Kiều: đấy là bản minh hoạ Kiều hay minh hoạ PD ? Ta nghe đâu đây âm vang của giai điệu PD của Nương Chiều, của Ngày Đó Chúng Mình, của Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài, của Kỉ Niệm, của Em Lễ Chuà Này, của Người Tình Tuyệt Vời... Nói thế không có nghiã là PD đã lặp lại chính mình trong công trình mới. Giai điệu PD xưa nay vẫn là những mẩu kỉ niệm về những tâm cảnh chúng ta, thì nay chúng cô đọng lại, dàn trải lại. — đây là phong cách PD trong cách thể hiện giai điệu. Nếu nhạc của Phần Một Minh Hoạ Kiều có gợi lại những kỉ niệm về những bài hát cũ của PD, thì chỉ là vì giai điệu của chúng là những nét đậm của phong cách âm nhạc PD mà đã năm mươi năm rồi nó bảng lảng trong không gian Việt Nam. — đây cũng còn là phong cách của Duy Cường khi thể hiện hoà âm nưã: phong cách hoà âm giàu ấn tượng.

Khí vị âm nhạc trong Minh Hoạ Kiều Phần Một là một dáng vẻ trữ tình nhưng rất nhiều nostalgia. Trong phần I có âm vọng nhạc đồng quê, có phong vị ca dao ngọt ngào mà chất phác. Ngôn ngữ nhạc PD trong Minh Hoạ Kiều Phần Một có một nét đặc sắc mà những ai đã nghe nhạc ông không thể không chú ý: phong cách nhạc dân tộc nổi rõ, mặc dù ông không vận dụng một nét giai điệu dân nhạc nào. Nhưng bao trùm lên đó là phong vị giai điệu của PD, rất riêng: nhạc điệu kiêu kì nhưng vẫn như dễ dàng tự nhiên như hơi thở. Ngôn ngữ nhạc trong tác phẩm này là sự dàn trải, sự tổng hợp của phong cách giai điệu PD: nhạc ngũ cung như đã bàng bạc trong giai điệu mượt mà trữ tình, ''rất PD''.

Công trình minh hoạ này vẽ lại những tâm cảnh, minh hoạ lại những mảnh gương soi vóc dáng của cuộc đời. Đối với người sáng tác thì đây là sự dàn trải tâm sự của hai người cha già tóc trắng ở hai quãng cách thời gian, khi đã qua hết bao nhiêu nhịp cầu nhân thế có mặn mà đấy nhưng cũng nhiều chua xót. Tác phẩm của họ đã ngồn ngộn những cảnh đời, những tâm sự ngổn ngang của một phận người. — đây, không phân biệt đâu là ý nghiã của cốt chuyện được minh hoạ, và đâu là tâm sự của chính người sáng tác.

Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ Việt Nam hiện đại đã tiếp nối một truyền thống lâu đời là: làm gạch nối giưã văn học và âm nhạc. Lời các ca khúc Phạm Duy là những bài thơ đẹp vì chúng mang một phong cách rất riêng, với những hình ảnh và ý nghiã sâu sắc, cảm xúc chân thành. Những nhạc sĩ khác cùng thời cũng phải thưà nhận tính cách văn học cao của lời nhạc Phạm Duy. Trong số những nhạc sĩ sáng tác ca khúc, chỉ có một số rất ít oi là thật sự chăm chút lời các ca khúc của mình ở trình độ văn học: sử dụng ngôn ngữ văn học đạt đến phong cách độc đáo vì ngôn ngữ mang tính hình tượng, có ý nghiã chuyên chở cảm xúc chân thành. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ khác rất chăm chút lời cho ca khúc của mình. Lời ca khúc TCS thường giàu tính tượng trưng, siêu thực; trong khi lời nhạc PD giàu tính ấn tượng.

Phạm Duy là gạch nối giưã thơ và nhạc, còn là vì một cái duyên khác: ông phổ nhạc rất nhiều bài thơ, từ ca dao đến những bài ''thơ mới'', và thơ hiện đại. Rất nhiều bài thơ đã bất tử nhờ nhạc PD. Đã từ mấy thập niên qua, những bài hát Vần Thơ Sầu Rụng, Tiếng Sáo Thiên Thai, Chiều Đông, Tiễn Em, Muà Thu Paris, Ngậm Ngùi, Tiếng Thu, Muà Thu Chết, Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài, Ngày Xưa Hoàng Thị, Em Lễ Chuà Này... vẫn vang ngân trong trí nhớ không thể nào phai của người thưởng ngoạn. Công trình thơ phổ nhạc PD đồ sộ, và cũng giàu tính nghệ thuật được thực hiện gần đây nhất là Trường Ca Hàn Mặc Tử là một thành tựu đáng kể của một bậc thầy. Liệu rằng Minh Hoạ Kiều có phải là một bài thơ phổ nhạc dài nhất trong sự nghiệp PD ?

Minh Hoạ Kiều hẳn là sẽ gợi lại những tranh luận về thể loại của tác phẩm. Đó là tổ khúc những bài thơ phổ nhạc ? Đó là một trường ca gồm nhiều phân khúc mà PD đã bền bỉ với nó từ bốn mươi năm nay ? Có phải đó là một truyện kể bằng nhạc như loại hình ca kịch vẫn thường thấy ? Hay một bài ca dài bốn phần, tổ hợp lại, như một lời đề từ cho câu truyện thương tâm về nàng Kiều ? Hãy còn quá sớm khi bàn cãi về thể loại. Vả chăng, thể loại là gì đối với một người nghệ sĩ tự do ? Thể loại sẽ đến sau, khi một tác phẩm đã hoàn tất.

Có một điều dễ thấy là Minh Hoạ Kiều sẽ nhiều tính kịch. PD thì cũng đã hơn một lần thể nghiệm thể loại ca khúc mang kịch tính như vậy. Hãy kể đến một vở ca kịch ông làm khoảng đầu thập niên 60 về câu chuyện Ngưu Lang-Chức Nữ, (Khoảng 1963, tuần báo NGÀN KHƠI ở Sài Gòn đã in mấy trích đoạn của vở tiểu nhạc kịch này). Và tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ, mặc dầu là một tác phẩm âm nhạc nhưng lại rất nhiều tính kịch, khiến nó có thể là một tác phẩm ca kịch trên sân khấu -- nếu được dàn dựng công phu. PD đã thể nghiệm thể loại sáng tác dài hơi theo phong cách của ông: một chính thể tác phẩm gồm nhiều tiểu khúc hợp thành. Nhưng bố cục của toàn khối một trường ca hay một tổ khúc PD vẫn không vì thế mà rời rạc, vì chúng vẫn nổi lên những nhạc đề chính cùng những biến điệu của chúng trong quá trình phát triển nhạc đề.

Đặt trong toàn bộ tác phẩm, phần Minh Hoạ Phần Một dài 39 phút như thế mới chỉ là một phần mở đầu của một câu chuyện rất dài mà thôi. Trong tác phẩm văn học, đây là phần duy nhất có thời gian và phong vị cuộc sống tươi sáng trọn đầy: trời xuân, hoa lá khoe tươi, màu sắc của bức tranh đầu đời Thúy Kiều là những màu trắng hoa lê, màu xanh của cỏ nhuộm non da trời, và màu nhạc vàng. Bức tranh sáng duy nhất trong tác phẩm Nguyễn Du. Thế nhưng bức tranh sáng kia đã vẩn lên những gợn mây sẽ đủ sức tàn phá của cơn giông tố kéo dài của một phận người: bóng ma Đạm Tiên và mấy bài thơ bạc mệnh của Kiều. PD đã minh hoạ những nét tương phản như thế trong tác phẩm của mình một cách trực tiếp, và cô đọng. Tính cách của âm nhạc là như thế.

Đặng Mỹ Lộc
London


Đi Tới
Trở Về Chương Trình Lưu Diễn