Buổi nói chuyện của nhạc sĩ Phạm Duy về Minh Họa Truyện Kiều tại Hòa Lan do nhóm CÁI ĐÌNH tổ chức hồi đầu tháng 8 năm 1997 được tiếp nối bằng cuộc đối thoại thật chân tình và vui vẻ giữa ông và khán giả. Đã lâu lắm rồi những người yêu nhạc ở Hòa Lan mới được gặp lại cây cổ thụ làng Tân nhạc Việt Nam, nên họ có rất nhiều điều muốn hỏi thăm ông. Nhạc sĩ Phạm Duy rất hứng khởi và ông đã trả lời cởi mở nhiều câu hỏi không liên can gì đến buổi nói chuyện. Ngược lại, khán thích giả rất tin tưởng Phạm Duy, nên đã đặt nhiều câu hỏi ngoài đề, nhưng liên quan đến hoạt động âm nhạc trong và ngoài nước, trong hiện tại và về tương lai. Chúng tôi chỉ ghi lại đây những điểm chính yếu các câu vấn đáp đặt ra tại hội trường, và xin mạn phép sắp đặt lại cho rõ ràng, mạch lạc. Để có thể hiểu thật đầy đủ, độc giả nên đọc thêm bài tường thuật buổi nói chuyện của nhạc sĩ Phạm Duy nêu trên và bài phỏng vấn riêng nhạc sĩ Phạm Duy. VẤN : Trong 60 năm gắn bó với tân nhạc, nhạc sĩ đã sáng tác rất nhiều bài ca cho dân tộc. Vào lúc đầu khán thính giả không cần phải có trình độ về âm nhạc cao vẫn có thể hiểu những sáng tác của ông như các bài BÀ MẸQUÊ, NHỚ NGƯỜI THƯƠNG BINH. PHƯỢNG YÊU, GIỌT MƯA TRÊN LÁ v.v... Mười năm trở lại đây ông đã đột nhiên chuyển hướng trong sáng tác, xin ông cho biết lý do tại sao? Tại Amsterdam
![]()
Lại Mạnh Cường
Phỏng Vấn Phạm Duy
ĐÁP : Tôi nghĩ rằng hành trình âm nhạc của tôi không bao giờ đứng im một chỗ. Trong quá khứ, có thể tôi đã thỏa mãn lòng yêu âm nhạc của giới bình dân qua việc soạn các bài nhạc dản dị, dễ hiểu. Dù tôi xuất thân là người hát rong, nhưng sau khi sáng tác những bản nhạc tình cảm và những ca khúc xã hội rất dễ hiểu, phù hợp với đám đông, rất phù hợp với một thời đại nào đó... bây giờ, với thời thế khó hiểu, với hoàn cảnh khó khăn của người lưu vong, với sức khoẻ suy sụt cùng tuổi tác... tôi tự thấy tôi phải bước qua loại nhạc tâm linh. Loại nhạc này đòi hỏi người nghe phải có trình độ thẩm âm cao hơn. Dù đau đớn cách mấy tôi cũng phải làm như thế thôi. Nếu bây giờ qúy vị yêu cầu tôi làm một bản nhạc dễ dãi, một bản nhạc tuyên truyền... thì tôi xin chịu !
VẤN : Khán thính giả yêu nhạc ở hải ngoại không được nghe trước để xem một bản nhạc mới sáng tác hay dở ra sao và để quyết định nên mua hay không? Trong nước còn có đài phát thanh, đài truyền hình quảng bá những sáng tác mới, nhưng ở hải ngoại thiếu điều kiện ấy. Như vậy tình trạng phổ biến nhạc hiện tại ở hải ngoại ra sao?
Lại Manh Cường và Phạm Duy trong buổi du thuyên trên những sông đào AmsterdamĐÁP: Nếu anh hỏi lý do tại sao những sáng tác phẩm của tôi sau này không được phổ biến lắm, thì anh hãy nhìn vào số phận đất nước ta. Sau 75 đất nước đã được thống nhất, những bài nhạc của Phạm Duy -- và của một số đồng nghiệp khác -- vẫn bị cấm trên quê hương. Một nước có văn minh, có văn hóa thì phải có một conservatoire để bảo lưu văn học/nghệ thuật. Nhưng rõ ràng là chính quyền Hà Nội chỉ giữ lại những sáng tác của những văn nghệ sĩ trung thành với Đảng Cộng Sản mà thôi... Trong nước, khán thính giả không biết nhạc Phạm Duy, còn ở hải ngoại thì 7, 8 năm tôi mới sang Hòa Lan một lần thì làm sao mà phổ biến hay bảo lưu được âm nhạc của tôi ở vùng đất này được ? Tôi nghĩ đó thuộc về vấn đề tổ chức. Nếu quý vị ngày nào cũng nghe TRƯỜNG CA HÀN MẶC TỬ hay MINH HỌA TRUYỆN KIỀU, có lẽ trình độ thẩm âm của quý vị sẽ ngày một lên cao. Thế nhưng quý vị đã chỉ dùng karaoke để nghe, để hát những loại nhạc dễ dãi, dung tục... quý vị rất ít nhiệt thành với tác phẩm lớn. Trong nghệ thuật, nếu không có sự hưởng ứng, tác phẩm sẽ không lên đưọc. Đó là chưa kể địa dư của ''nước Việt hải ngoại'' quá rộng lớn, trải dài khắp thế giới... Tôi là người rất chịu khó đi đó đi đây, nhưng tôi cũng đâu có đủ sức để đi hết mọi nơi ? Hơn nữa, trước đây chưa về được Việt Nam nên người ta thường hay dùng nhạc để nhớ về quê hưong. Nay gần như ai cũng đã về lại Việt Nam, nên giới nghệ sĩ chúng tôi sắp thất nghiệp đến nơi rồi ! ! ! Hôm nay tôi rất mừng khi thấy quý vị tham dự thật đông đảo như vầy, thành ra tôi đỡ bi quan hơn.
VẤN : Nếu nhạc sĩ sang đây sau tháng 7 và 8 số người tham dự còn đông hơn nhiều, lúc này người ta đi nghỉ hè rất nhiều. Nhạc sĩ có nói tình trạng âm nhạc VN hiện nay ở hải ngoại và trong nước không ra gì cả. Nhưng tôi nghĩ khác với nhạc sĩ ở chỗ vấn đề sáng tác tùy thuộc vào hai yếu tố chính: tự do và môi trường. Ngoài hải ngoại tuy có tự do, nhưng thiếu môi trường làm động lực và chất liệu cho sáng tác. Trong nước thiếu tự do, nhưng môi trường gợi hứng sáng tác và chất liệu tràn đầy. Như vậy theo nhạc sĩ chiều hướng sáng tác sẽ đi về đâu?
ĐÁP : Trước hết tôi thành thực thú nhận là chưa bao giờ chúng ta có một buổi hội họp như ngày hôm nay để khán thính giả cùng người sáng tác đối thoại với nhau thật chân tình. Tuy quý vị là những người yêu thích nhạc của tôi, của Văn Cao, của Trịnh Công Sơn v.v... nhưng chưa một ai làm tổng kết 60 năm phát triển Tân nhạc Việt Nam. Theo sự nghiên cứu riêng của tôi, Tân nhạc ra đời năm 1938 đến nay đã 60 năm, được chia làm bốn giai đoạn:
1.- Giai đoạn thứ nhất : Khi nền tân nhạc mới ra đời thì gặp ngay cuộc kháng chiến. Cuộc đấu tranh cho độc lập và tự do này đã tạo ra nhiều hứng khởi trong sáng tác. Sáng tác nhạc trong thời kỳ 1945-1954 hay vô cùng. Bài dở nhất, so với những bài mọi người công nhận là hay... bây giờ nghe lại vẫn thấy khoái, vì nó rất hứng khởi. Đó là chưa kể những bài hay của Văn Cao như TRƯỜNG CA SÔNG LÔ hay CHIẾN SĨ VIỆT NAM...
2.- Giai đoạn thứ hai : Sau khi đất nước chia đôi vào năm 1954, nhạc ở miền Bắc vẫn tiếp tục hứng khởi -- đúng ra là bị bắt buộc phải hứng khởi dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của chính quyền -- còn nghệ sĩ di cư vào Nam không lâm vào tình trạng phải soạn nhạc hứng khởi. Họ nghiêng về nhạc suy tư. Ai nói nhạc Trịnh Công Sơn là phản chiến thì cứ việc nói, còn tôi nhìn nhạc Trịnh Công Sơn là nhạc suy tư của người không thích đi lính. Trong một nước đang lâm cảnh tao loạn, có người hiếu chiến thì cũng phải có người hiếu hòa. Đấy là quyền tự do của mọi người. Về phần tôi, khi soạn LỮ HÀNH, XUÂN HÀNH, DẠ HÀNH... hay ĐƯA EM TÌM ĐỘNG HOA VÀNG... thì nhạc của tôi là nhạc suy tư. Ngay cả nhạc tình rất ướt át trong thập niên 1960-70 cũng là nhạc suy tư, chẳng hạn bài NI�M KHÚC CU�I của Ngô Thụy Miên...
3.- Giai đoạn thứ ba : Khi đất nước thống nhất vào năm 1975 thì đúng ra nhạc trong nước phải hứng khởi gấp 10 lần chứ. Thế nhưng nó không hứng khởi, vì sao như vậy, tôi sẽ nói sau. Còn nhạc hải ngoại thì chỉ toàn là nhạc khóc than. Tôi cũng thế, những sáng tác như TỊ NẠN CA, NGỤC CA... chỉ có than khóc mà thôi. Trong văn chương cũng không khác gì, chỉ kể lại ở tù CS ra sao, ra ngoài này buồn bã làm sao ? Sau này tôi nhận thấy soạn nhạc buồn như vậy là bế tắc, nên tôi giã từ nhạc xã hội, nhẩy qua nhạc tâm linh. Vả lại đến năm 1988 thì tôi thấy vấn đề Việt Nam đã giải quyết xong rồi, nhất là khi thấy bức tường Bá Linh bị kéo sụp năm 1990 và đến phiên Liên Xô tan rã. Tôi chuyển qua những tác phẩm lớn với nhạc đa điệu như BẦY CHIM H�I XỨ, RONG CA, THIỀN CA... Trong nước còn biết bao nhiêu nhân tài nhưng từ 22 năm qua chẳng có bản nhạc nào làm mọi người thấy thích, thấy kính phục cả. Tại sao ? Tại vì trong nước không có tự do sáng tác. Quan trọng nhất là lòng người không vui, tại sao không vui thì ai cũng biết, tôi khỏi cần nói.
2.- Giai đoạn thứ bốn : là giai đoạn hiện nay và có thể là giai đoạn của nhạc đa điệu chăng ???VẤN : Nhạc sĩ đang làm một công việc rất khó là phổ nhạc truyện Kiều, một tác phẩm bất tử của cụ Nguyễn Du ra đời cách đây hơn 200 năm. Trong sáng tác nhạc sĩ có quyền sửa đổi, thêm bớt vài chữ vài câu, miễn là không đi ra ngoài cái ý chính của cụ Nguyễn Du. Chẳng hạn như Sè sè nấm đất bên đường thay cho Sè sè nấm mộ bên đường v.v... (g.c.3)
Khi cụ Nguyễn Du tả nét đẹp của Thúy Vân, cụ đã dùng phép tỷ đối: Vân xem trang trọng khác vời/ Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang (g.c.4). Nếu để cho hợp vần trong bài nhạc thì tôi không có gì để phản đối khi nhạc sĩ đổi nét ngài thành nét người. Nhưng sau đó nhạc sĩ lại giải thích là tam sao thất bổn, là nét người mới đúng, tôi thấy quả là oan cho cụ Nguyễn quá! Nhạc sĩ đã chơi ép cụ Tiên Điền, vì cụ đã mất lâu rồi không thể đối chất với ai được. Tôi xin thưa khuôn trăng đầy đặn là con trăng tròn đẹp ngày 16 âm lịch, chứng tỏ Thúy Vân đẹp đoan trang và đang ở trong giai đoạn xuân sắc dậy thì. Nếu tiếp theo như nhạc sĩ nói nét người nở nang thì Thúy Vân trở thành béo phì, mất hẳn nét đẹp đoan trang của cô con gái đang tuổi dậy thì. Nét ngài là con tằm đang trong giai đoạn ăn dâu, rất sung sức, sắp sửa nhả tơ thành cái kén bao quanh nó. Con tằm đó tượng trưng cho sự sung mãn, cũng như Thúy Vân giống trái mận căng phồng, chỉ cần ta ghé răng cắn khẽ là bật nước ra ngay. Để tả cái uy dũng của Từ Hải, cụ Nguyễn Du dùng câu Râu hùm hàm én mày ngài. Vậy khi nói lông mày như con ngài là để tả nét đẹp kiêu hùng và tràn đầy sức sống. Thường khi diễn tả nét đẹp của lông mày phái nữ người xưa thường nói mày liễu (g.c.5).
ĐÁP : Cám ơn anh đã góp ý cho rằng tôi vẫn có thể sửa đổi lại dăm ba lời ca. Tuy nhiên xin thưa để anh rõ tôi không phải là người duy nhất nói như vậy, và tôi không có ý định xuyên tạc sự thực. Có một nhà nghiên cứu đã viết cụ Tiên Điền là người Nghệ Tĩnh. ở đó người ta thường đọc trệch con người thành con ngài. Xin đan cử câu châm ngôn Nghệ Tĩnh: Tốt con ngài hơn là dài tấm áo. Hơn nữa, anh nên biết, các cụ ngày xưa có cái nhìn về cái đẹp khác bây giờ : Đàn bà phải béo mới là đẹp... Thì sao ?
VẤN : Tôi cũng xin biện minh cho cụ Nguyễn Du là lông mày Thúy Vân như con ngài. Điều này chứng tỏ về sau Thúy Vân đã lấy người yêu của chị mình. Tôi biết rõ nhạc sĩ Phạm Duy chỉ thích hình dáng Thúy Vân nở nang thôi! Trong thi ca hay đặt ra vấn đề tranh cãi về từ ngữ, bởi thơ thường phải ghép với vần và điệu. Có nhiều khi ta không biết rõ vì vần điệu mà tác giả phải sửa từ dùng hay vì lý do nào khác?
ĐÁP : Tôi xin nói thêm ở đây vì lý do phổ nhạc Kiều nên tôi phải học thuộc nằm lòng truyện Kiều và đọc rất nhiều sách báo về Kiều. Nhưng tôi vẫn tiếp thu hết những ý kiến đóng góp của khán thính giả. Trong quá khứ có những câu ông Hoàng Xuân Hãn nói là cụ Trần Trọng Kim viết như thế, nhưng cụ Trần đã mất lâu rồi còn đâu mà tranh cãi với ông Hoàng. Cụ Tiên Điền khuất núi trên hai thế kỷ nay, nên khi làm adaptation (tạm dịch: thay đổi để thích hợp, thích nghi với hoàn cảnh) thì mình cũng phải xin phép. Dù sao tôi vẫn thích Thúy Vân của tôi đẹp như Marilyn Monroe vậy!
Lại Mạnh Cường
Amsterdam
Đi Tới
Trở Về Chương Trình Lưu Diễn